Chương 1: Những vấn đề cơ bản về công chức hành chính nhà nước cấp tỉnh và chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước cấp tỉnh. Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước cấp tỉnh ở tỉnh Hà Nam. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước cấp tỉnh ở tỉnh Hà Nam. 8 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC CẤP TỈNH VÀ CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC CẤP TỈNH 1.
Khái niệm công chức hành chính nhà nƣớccấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay 1. Khái niệm về công chức Công chức là danh từ dùng để chỉ những người thừa hành các quyền lực nhà “ nước, thực hiện các hoạt động công vụ của nhà nước. Công chức là bộ phận quan trọng trong bộ máy QLNN, là lực lượng lao động chủ yếu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy HCNN từ trung ương đến địa phương. Do đặc thù từng quốc gia nên quan niệm và định nghĩa về công chức ở các quốc gia không hoàn toàn đồng ” nhất.
Tại Pháp, công chức nhà nước được hiểu: “Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ương và địa phương nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng địa phương quản lý” [12, tr.228] Tại Hoa Kỳ: “Những nhân viên trong ngành hành chính của Chính phủ được gọi chung là công chức”. Đặc điểm của công chức Mỹ là không mang tính thường xuyên liên tục mà tồn tại hệ thống thải loại; việc tuyển chọn, bổ nhiệm công chức chủ yếu theo công trạng thực tế, công chức chỉ được tuyển dụng vào một công việc cụ thể mà không có con đường chức nghiệp. Tại Nhật Bản, công chức được hiểu đó là: “Công chức nhà nước gồm những người được nhận chức trong bộ máy của Chính phủ trung ương, ngành tư pháp, quốc hội, quân đội, trường công và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc doanh được lĩnh lương của ngân sách nhà nước. Công chức địa phương gồm những người làm việc và lĩnh lương từ tài chính địa phương” [12, tr.156] 9 Tại Trung Quốc: “Công chức nhà nước là những người công tác trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ.
Công chức gồm hai loại: + Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực nhà nước. Các công chức này bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp. + Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức. Họ chiếm tuyệt đại đa số trong công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật” [12, tr.268] Qua một số quan niệm về công chức ở một số quốc gia trên thế giới, có thể “ hiểu công chức là những công dân được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một chức vụ hay thừa hành công vụ thường xuyên trong bộ máy Nhà nước ở trung ương hay địa phương, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và chịu sự điều hành của pháp luật về công chức.
Ở Việt Nam trải qua quá trình hình thành và phát triển,cho đến hiện nay khái niệm công chức đã được quy định rõ trong Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 13-11-2008 ” “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [9, tr.2] 10 Trong Luận văn này, học viên sử dụng khái niệm về công chức như đã nêu trong quy định của Luật Cán bộ, công chức 1. Khái niệm về công chức hành chính nhà nước Quản lý HCNN là hoạt động tổ chức và điều hành của các cơ quan thực thi “ quyền lực nhà nước để quản lý, điều hành các lĩnh vực kinh tế, đời sống xã hội theo luật pháp, đây là chức năng quan trọng của bất kỳ nhà nước nào. Hoạt động quản lý HCNN chỉ có thể được thực hiện thông qua vai trò, chức năng quản lý của đội ngũ công chức HCNN. Do đó công chức hành chính nhà nước là những người đảm nhận hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Công chức HCNN khác với các CB,CC hoạt động trong các tổ chức chính trị và công chức, người làm việc trong các khối cơ quan hoạt động làm chức năng sự nghiệp mang tính phục vụ của nhà nước như trường học, bệnh viện… Công chức HCNN là bộ phận quan trọng trong đội ngũ công chức, là chủ thể của bộ máy HCNN, được đào tạo, bổ nhiệm theo một hệ thống riêng và mang tính ổn định; thực hiện chức năng QLNN, bảo đảm thực thi quyền lực HCNN đối với xã hội. Có vai trò quyết định trong tổ chức quá trình ra quyết định, quản lý và hướng dẫn, tổ chức thực hiện các chính sách, quyết định của nhà nước. Phân loại công chức hành chính nhà nước Trong hoạt động công vụ của Nhà nước, có thể phân loại công chức theo “ những cách khác nhau: - Theo đặc thù và tính chất công việc Nhằm phục vụ cho việc quy hoạch công chức, đáp ứng yêu cầu của các loại công việc, tạo ra sự cân đối trong việc sắp xếp và quản lý công chức, người ta phân công chức thành 4 loại: + Công chức lãnh đạo: là những công chức giữ cương vị chỉ đạo trong điều hành công việc. Tùy theo tính chất công việc ở các vị trí khác nhau mà phân ra công chức lãnh đạo ở các cấp độ cao thấp khác nhau.
Công chức lãnh đạo là những người 11 được quyền ra các quyết định quản lý, tổ chức và điều hành những người dưới quyền thực hiện công việc. Công chức lãnh đạo được giao những thẩm quyền, trách nhiệm nhất định. Thẩm quyền và trách nhiệm đó gắn với chức vụ người lãnh đạo đảm nhiệm, thẩm quyền càng cao thì trách nhiệm càng nặng nề. + Công chức chuyên gia: là những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật, có khả năng nghiên cứu, đề xuất những phương hướng, quan điểm và thực thi công việc chuyên môn phức tạp.
Họ là những người tư vấn cho lãnh đạo, đồng thời cũng là những nhà chuyên môn tác nghiệp những công việc đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn nhất định. + Công chức chuyên môn, nghiệp vụ: là những người được trao thẩm quyền nhất định trong phạm vi công tác của mình để thừa hành công việc, thi hành công vụ nhân danh quyền lực nhà nước. Trên cơ sở chuyên môn nghiệp vụ và nhiệm vụ được giao, họ tham mưu cho lãnh đạo ra các quyết định quản lý hành chính và có thể họ là người trực tiếp thực hiện các quyết định hành chính đó. + Công chức là nhân viên hành chính: là những người thừa hành nhiệm vụ do công chức lãnh đạo giao phó.
Họ là những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở mức thấp nên chủ yếu là làm công tác phục vụ trong bộ máy hành chính nhà nước. Phân loại công chức như trên chỉ có ý nghĩa định tính, nhằm giúp cho việc xác định cơ cấu công chức trong việc quy hoạch, mà chưa rõ trình độ, năng lực của công chức trong từng loại khác nhau, do đó chưa đáp ứng được yêu cầu chuẩn hóa công chức. ” - Theo trình độ đào tạo, công chức được chia làm ba loại: “ + Loại A là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu đào tạo chuyên môn giáo dục đại học và sau đại học. + Loại B là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục chuyên nghiệp.
12 + Loại C là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn dưới giáo dục nghề nghiệp. Cách phân loại này có ý nghĩa nhất định về lý luận và thực tiễn trong việc ” chuẩn hóa trình độ chuyên môn của công chức, khuyến khích họ phấn đấu học tập, nâng cao trình độ, thăng tiến theo chức nghiệp. - Theo ngạch công chức Ngạch công chức là một khái niệm chỉ trình độ, năng lực, khả năng chuyên “ môn và ngành nghề của công chức. Mỗi ngạch thể hiện một cấp độ về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và có tiêu chuẩn riêng, bao gồm 5 loại: + Công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên; + Công chức ngạch chuyên viên chính và tương đương; + Công chức ngạch chuyên viên và tương đương; + Công chức ngạch cán sự và tương đương; + Công chức ngạch nhân viên và tương đương.
- Theo phân cấp quản lý hành chính nhà nước Hệ thống HCNN ở Việt Nam phân theo bốn cấp từ Trung ương cho tới cơ sở, tương đương với hệ thống hành chính này, công chức HCNN cũng được phân loại theo bốn cấp: + Công chức quản lý HCNN cấp Trung ương: gồm công chức quản lý hành chính nhà nước làm việc trong các Bộ, Ngành ở Trung ương, cơ quan trực thuộc Chính phủ hoặc cơ quan Chính phủ. + Công chức quản lý HCNN cấp tỉnh (hoặc thành phố trực thuộc Trung ương): gồm các công chức làm việc tại ủy ban nhân dân, các sở, ban, ngành của tỉnh (hoặc thành phố trực thuộc Trung ương). + Công chức quản lý HCNN cấp huyện (hoặc tương đương): bao gồm các công chức làm việc tại ủy ban nhân dân, các phòng, ban, ngành của huyện (hoặc tương đương). 13 + Công chức quản lý HCNN cấp cơ sở: bao gồm các công chức làm việc tại cơ qua hành chính cấp cơ sở (UBND xã, phường, thị trấn).