Chương 1: Cơ sở khoa học về năng lực của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh. Chương 2: Thực trạng năng lực của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2018 Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH 1. Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh 1. Khái niệm - Công chức: Công chức là một bộ phận quan trọng trong nền hành chính của quốc gia, nó phản ánh nhu cầu khách quan của lịch sử phát triển nhà nước.
Ở nước ta, tính từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, khái niệm công chức luôn thay đổi theo sự phát triển của đất nước ở mỗi thời kỳ. Điểm khởi đầu hình thành khái niệm công chức được đánh dấu bằng sự ra đời Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về Quy chế công chức Việt Nam. Tại Điều 1 của Quy chế Công chức Việt Nam năm 1951đã nêu khái niệm công chức là “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Tuy nhiên do điều kiện đất nước chiến tranh nên bản Quy chế công chức không được triển khai đầy đủ.
Khái niệm công chức không được sử dụng mà thay vào đó là khái niệm cán bộ công nhân viên chức nhà nước. Đến năm 1991, khái niệm công chức được sử dụng trở lại trong Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về công chức nhà nước. Nghị định chỉ rõ “công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là 8 công chức nhà nước”. Nghị định cũng chỉ ra những đối tượng nào là công chức, những đối tượng nào không phải công chức.
Đến năm 1998, tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức. Tại Điều 1, Pháp lệnh đã nêu khái quát khái niệm cán bộ, công chức và liệt kê các đối tượng là cán bộ, công chức. Để cụ thể hóa Pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Công chức là “Công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan.
Đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công dân quốc phòng”. Ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Cán bộ, công chức, có hiệu lực từ 01/01/2010. Tại khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức quy định “công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công dân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị 9 sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Ngày 25/11/2019, tại kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, có hiệu lực từ ngày 01/7/2020.
Tại khoản 1, Điều 1, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức quy định “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. - Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015: “Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên”. Tổ chức các CQCM thuộc UBND tỉnh được Chính phủ quy định tại Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014. Theo Nghị định này, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh gồm có Sở và cơ quan ngang Sở (sau đây gọi chung là Sở).
Sở là cơ quan thuộc UBND cấp tỉnh; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh. 10 - Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những người là công chức đã quy định cụ thể những đối tượng nào là công chức các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh, đó là: “Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân” [2, tr. Như vậy, có thể hiểu công chức các CQCM thuộc UBND tỉnh là công dân Việt Nam; trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước; được tuyển dụng theo đúng quy định của pháp luật, được bổ nhiệm vào ngạch, bậc cụ thể và làm việc trong các CQCM thuộc UBND tỉnh. Vị trí, vai trò của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Đội ngũ công chức có vai trò rất quan trọng quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương.
Hiệu lực QLNN được thực hiện bởi số lượng, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức. Công chức trong các CQCM thuộc UBND tỉnh là lực lượng đông đảo và quan trọng trong hệ thống chính trị. Công chức, là "cầu nối" giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân, nhưng không phải là "vật mang", là "dây dẫn", là chuyển tải cơ học mà chính là con người có đủ tư chất, tài năng và đạo đức để làm việc đó. Bởi lẽ, để có thể đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đòi hỏi người cán bộ, công chức phải có một trình độ, trí tuệ nhất định.
Nếu không, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, người cán bộ, công chức sẽ làm sai lệch tinh thần, nội dung của đường lối, chính sách và khi đó thì thật là nguy hiểm. Ngoài tiêu chuẩn về trình độ hiểu 11 biết nhất định, người cán bộ, công chức còn cần phải có tiêu chuẩn khác là phẩm chất và bản lĩnh chính trị. Việc truyền đạt, giải thích và triển khai thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước là một việc khó khăn; nhưng khó khăn và phức tạp hơn nhiều là nắm chắc được tình hình, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, cũng như phản ánh được đúng thực chất của tình hình để làm căn cứ cho việc tham mưu, hoạch định chính sách. Đội ngũ công chức các CQCM thuộc UBND tỉnh là nguồn lực quan trọng có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy HCNN, là một trong những nguồn lực quan trọng trong việc thực hiện công cuộc CNH - HĐH đất nước.
Công chức các CQCM thuộc UBND tỉnh là đội ngũ chủ yếu trực tiếp tham gia xây dựng đường lối đổi mới kinh tế của địa phương, hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức QLNN và kiểm tra. Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, vai trò của công chức các CQCM thuộc UBND tỉnh càng trở nên quan trọng, bởi các lý do sau: - Sự tác động của quá trình quản lý đối với thực tiễn trong điều kiện mới càng trở nên quan trọng. Các quyết định quản lý có thể đem lại hiệu quả to lớn nhưng cũng có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng trong tương lai. Do đó, đối với đội ngũ công chức các CQCM thuộc UBND tỉnh cần phải có trách nhiệm cao về chất lượng, về tính khoa học trong các quyết định quản lý.
- Sự phát triển kinh tế - xã hội, cạnh tranh thị trường ngày càng khốc liệt, đòi hỏi các quyết định quản lý và sự lựa chọn các phương án tối ưu càng khó khăn và phức tạp hơn.