Chương 1 - TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm và nội dung hoạt động của y tế thôn bản Y tế cơ sở đóng vai trò hết sức quan trọng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đặc biệt là chăm sóc sức khoẻ ban đầu, xây dựng và củng cố y tế cơ sở là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và ngành Y tế. Trong thông tư số 07/TT - BYT ngày 28 - 5 - 1997 của Bộ Y tế đã nhấn mạnh phải kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở: "Trạm y tế xã phường (gọi tắt là y tế cơ sở) là nơi cung cấp dịch vụ Chăm sóc sức khoẻ ban đầu cơ bản. Dưới trạm có y tế thôn bản, các nhân viên YTTB và người tình nguyện hoạt động dưới sự chỉ đạo và quản lý trực tiếp của y tế sơ sở, đựơc chính quyền và nhân dân thôn, bản hỗ trợ về mặt tài chính".
Y tế thôn bản nằm trong hệ y tế cơ sở, đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Nhân viên y tế thôn bản là những người gần dân nhất. Họ sống ngay tại thôn bản, hiểu rõ được tình hình đời sống và bệnh tật ở mỗi gia đình. Nhân viên YTTB được coi là cánh tay vươn dài của y tế cơ sở, có nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, phát hiện sớm dịch bệnh, xử trí sơ cứu ban đầu, chăm sóc người mắc bệnh nhẹ và mạn tính, quản lý thai nghén.
Vai trò của YTTB rất quan trọng trong CSSKBĐ cho nhân dân, hướng dẫn nhân dân biết và sử dụng thuốc hợp lý, an toàn; đưa các dịch vụ y tế, dịch vụ dân số tới người dân, giám sát dịch tễ tại thôn, bản [21]. Nhận thức được vai trò quan trọng của YTTB trong công tác CSSKBĐ tại cộng đồng, Đảng, Chính phủ, Bộ Y tế đã ra nhiều nghị quyết, chỉ thị và quyết định tăng cường và củng cố mạng lưới y tế cơ sở trong đó có YTTB. - 5 Một trong những văn bản có ý nghĩa quan trọng đối với YTTB là Quyết định - số 3653/QĐ-BYT ngày 15/11/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chức năng nhiệm vụ của YTTB. Vị trí, chức năng của nhân viên YTTB là nhân viên y tế hoạt động tại thôn bản có chức năng CSSK cho nhân dân trong thôn.
Nhân viên YTTB có nhiệm vụ: Tuyên truyền - giáo dục sức khoẻ tại cộng đồng; Hướng dẫn thực hiện vệ sinh phòng bệnh; Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hoá gia đình; Sơ cứu ban đầu và chăm sóc bệnh thông thường; Thực hiện các chương trình y tế. Nhân viên y tế thôn chịu sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp của trạm y tế xã và sự quản lý của trưởng thôn. Nhân viên y tế thôn có mối quan hệ phối hợp với các tổ chức quần chúng, đoàn thể tại thôn để triển khai công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân tại thôn bản [5]. Một số nghiên cứu về mô hình y tế thôn bản 2.
Nghiên cứu trên Thế giới Đội ngũ nhân viên Y tế cộng đồng (Community Health Workers) của nhiều nước trên Thế giới đã có những đóng góp quan trọng trong các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới. Phần lớn họ làm việc theo hướng hoàn toàn tự nguyện, họ không được hưởng thù lao và ít chịu sự quản lý và theo dõi của Nhà nước. Nhiệm vụ chủ yếu của các nhân viên y tế cộng đồng này là làm công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, tuyên truyền vận động vệ sinh phòng bệnh. Hiện nay một số nước trên thế giới đã có các mô hình hoạt động này: Ở Trung Quốc: Trong hai thập kỷ 60 và 70 đã đào tạo một triệu rưỡi "Bác sỹ chân đất" từ nông dân và xây dựng 600."Bác sỹ chân đất" đảm nhiệm việc chữa bệnh và phòng bệnh tại thôn, bản.
Tại xã có TYT xã hỗ trợ cho YTTB, phòng y tế huyện là cơ sở quản lý nhà nước thấp - 6 nhất có trách nhiệm lập kế hoạch và giám sát các hoạt động y tế huyện. Hệ - thống y tế nông thôn được nhà nước và cộng đồng đóng góp tài chính. Nhà nước chi trả lương cho cán bộ y tế, cho các hoạt động của các y tế cơ sở trong huyện và các chương trình y tế dự phòng. Cộng đồng trả tiền nhân viên y tế ngoài Nhà nước [29].
Ở Thái Lan: Hiện nay có 2 loại nhân viên YTTB, một là những truyền thông viên y tế, hai là tình nguyện viên y tế. Những truyền thông viên được đào tạo và cung cấp những nguyên tắc chỉ đạo cho phép họ phục vụ như những người truyền bá thông tin y tế tới nhóm từ 10 - 15 hộ gia đình. Cứ 10 truyền thông viên có 1 tình nguyện viên y tế. Những tình nguyện viên y tế được huấn luyện kỹ hơn và có trách nhiệm nâng cao sức khoẻ, phòng ngừa dịch bệnh, chăm sóc một số bệnh đơn giản.
Hiện nay ở Thái Lan có khoảng 42.325 tình nguyện viên y tế và khoảng 434.803 truyền thông viên y tế, phủ khoảng 95% thôn bản [29], [54]. Phần Lan: Công tác CSSKBĐ thực hiện ở cộng đồng thì thuộc về vai trò của các hiệp hội (Y tế và nhiều ngành khác). Hiệp hội tổ chức dân chúng thực hiện CSSKBĐ tỏ ra rất hiệu quả, đội ngũ tình nguyện tham gia vào việc tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, chăm sóc sức khoẻ cho người già, cung cấp các dịch vụ y tế [29], [57]. Môzămbic: Đã sử dụng những người hoạt động tình nguyện ở các cộng đồng nông thôn và thành thị.
Họ đi đến từng nhà, từng gia đình để tuyên truyền và thực hiện một số chương trình y tế, trong đó thành công nhất là thực hiện chương trình TCMR [29]. - 7 Nê Pan: Xây dựng đội ngũ nhân viên y tế làng làm đầu mối quan trọng - giữa các Trung tâm y tế với cộng đồng. Nhân viên y tế làng thường sống xa Trung tâm y tế. Dưới sự phân công của trạm y tế, nhân viên y tế làng đảm nhiệm việc chăm sóc sức khoẻ cho người dân trong làng mình và làm việc như một nhân viên y tế lưu động (được đào tạo trong khoảng 3 tháng).
Nhân viên này có nhiệm vụ chủ yếu là tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cho người dân ở cộng đồng. Nhân viên y tế làng không có nhiệm vụ điều trị người bệnh mà chủ yếu vận chuyển người bệnh đến Trung tâm y tế. Hàng tháng, nhân viên y tế làng đến Trung tâm y tế trong vài ngày để báo cáo tình hình sức khoẻ của nhân dân trong cộng đồng [29], [58]. Yemen: Các Trung tâm công cộng ở Yemen bao gồm hướng dẫn viên y tế và các bà đỡ làm việc tại các thôn, các cộng đồng 200 - 5.
Các hướng dẫn viên được đào tạo 3 tuần trong 3 tháng. Trình độ các hướng dẫn viên y tế rất khác nhau, có người không biết chữ, có người lại tốt nghiệp đại học, 10% là giáo viên phổ thông. Nhiệm vụ chính được tiến hành bởi các hướng dẫn viên là liên quan tới sốt rét, sốt nhiễm khuẩn, mắt, bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, thiếu máu và sử dụng thuốc an toàn [29], [59]. Các hướng dẫn viên y tế được trả lương và làm việc tại các đơn vị y tế, các hướng dẫn viên y tế đã bao quát được khoảng 80% dân.
Tuy vậy, rất khó đánh giá về các khía cạnh chất lượng việc làm của hướng dẫn viên y tế [29].000 nhân viên y tế thôn bản đã được đào tạo trước khi Bộ y tế chuyển giao cho Bộ công tác phụ nữ. Nhân viên YTTB được cộng đồng lựa chọn. Người được chọn phải là người lớn, được tín nhiệm, có thể đọc hoặc viết được ngôn ngữ địa phương. Các nhân viên YTTB được đào tạo 3 tháng (2 tháng lý thuyết và 1 tháng thực hành) tại cấp huyện và thôn, dưới sự giám sát của huấn luyện viên lâm sàng và các lãnh đạo cộng - 8 đồng.
Sau đào tạo, các nhân viên y tế làng trở thành các nhân viên y tế không - chính thức, được giám sát chủ yếu bởi các y tá từ các bệnh viện. Họ được tiếp nhận khuyến khích số tiền là 35 dolla ZIMBABWE/1 tháng, 01 chiếc xe đạp và 01 túi thuốc, cộng đồng không chi gì thêm. Việc đào tạo lại được thực hiện sau một năm [29], [53], [55]. Nghiên cứu ở Việt Nam 2.
Giai đoạn sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 -1970 Mạng lưới y tế thôn bản Việt Nam được hình thành từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 với những tên gọi khác nhau như: Vệ sinh viên (ở nông thôn), cứu thương (quân đội). Trong nền kinh tế tập trung bao cấp trước Khoán 10 trong nông nghiệp YTTB gắn liền với hợp tác xã và đội sản xuất. Phụ cấp của YTTB do hợp tác xã trả bằng công điểm, cấp ruộng để tự thu hoạch, trong thời kỳ này hoạt động của YTTB tương đối có nề nếp, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao xứng đáng là cánh tay vươn dài của y tế cơ sở. Nhiệm vụ của họ là thực hiện công tác tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh, hoạt động gắn liền với phong trào như 3 sạch, 4 diệt, sạch làng tốt ruộng, ăn chín uống sôi.
Trong những năm giao thời của chương trình đổi mới, nền kinh tế đã thay đổi đáng kể, hệ thống các hợp tác xã nông nghiệp không còn tồn tại và cùng với sự tan rã của hệ thống này là sự xuất hiện của y tế cộng đồng, những người có trách nhiệm hỗ trợ công việc của cán bộ y tế tại các trạm y tế xã thông qua cộng đồng. Các trạm y tế xã trước kia thường phụ thuộc vào nguồn tài chính do các hợp tác xã nông nghiệp cung cấp, thì thay vào đó đã phải dựa vào nguồn kinh phí luôn trong tình trạng thiếu thốn và phụ thuộc vào nguồn kinh phí của Uỷ ban Nhân dân xã. Do vậy, các nguồn kinh phí cho xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, thuốc men và đào tạo đã bị giảm nghiêm trọng và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ở tuyến địa phương - 9 cũng sa sút nghiêm trọng, thậm trí lương của cán bộ y tế xã cũng bị trả thất - thường. Vì thế, mạng lưới y tế cơ sở không có kinh phí để hoạt động thường xuyên, YTTB cũng chịu ảnh hưởng rất lớn [48].
Chăm lo sức khoẻ cho nhân dân là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam.