CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM 1. Nạn nhân của tội phạm 1.1 Khái niệm Thuật ngữ nạn nhân đã được sử dụng từ xa xưa, thời đó, do quan niệm con người phụ thuộc vào chúa trời, thần thánh nên để đảm bảo cuộc sống bình yên, mùa màng ổn định, con người hàng năm thường phải đem giết những phụ nữ trẻ đẹp hay súc vật để làm lễ vật tế thần thánh, chúa trời; những phụ nữ hay súc vật này được gọi là nạn nhân. Ngày nay, thuật ngữ nạn nhân đã được sử dụng với nghĩa khác hơn nhiều. Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Nạn nhân là người bị tai nạn hoặc người, tổ chức gánh chịu hậu quả từ bên ngoài đưa đến” [1, tr.
Theo cách định nghĩa trên thì thuật ngữ nạn nhân được hiểu là những cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản. Nạn nhân là cá nhân, tổ chức gánh chịu hậu quả bên ngoài đưa đến, họ có thể là: Nạn nhân của chiến tranh, nạn nhân của thiên tai, nạn nhân của tai nạn lao động, nạn nhân của tai nạn giao thông, nạn nhân của tội phạm. Nạn nhân của tội phạm là một vấn đề luôn được các nhà khoa học đặt ra nghiên cứu và được các nhà lập pháp đề cập đến trong các văn bản luật. Mặc dù vậy, hiện nay chưa có quan điểm thống nhất về nạn nhân của tội phạm, cụ thể: Quan điểm thứ nhất, xác định nạn nhân của tội phạm theo nghĩa hẹp: Theo đó, nạn nhân của tội phạm được xác định là những cá nhân bị hành vi phạm tội xâm phạm gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tài sản.
Quan điểm này đã được Hans von Hentig, một trong những người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu nạn nhân, sử dụng từ những năm 1962. Theo ông, nạn nhân của tội phạm là những người bị hành vi phạm tội gây thiệt hại 7 đối với các quyền và lợi ích hợp pháp và trên thực tế phải chịu đựng những tổn hại về vật chất hoặc sức khoẻ, tính mạng, tinh thần [42]. Theo quan điểm của Haiz Zipf thì nạn nhân của tội phạm trong tội phạm học là tất cả những người bị hành vi phạm tội xâm hại, bất kể người phạm tội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (trong những trường hợp người bị hại không yêu cầu khởi tố vụ án) [42]. Điều 1, Hiệp định khung về địa vị của nạn nhân trong tố tụng hình sự ở châu Âu đã định nghĩa: “Nạn nhân được hiểu theo nghĩa là thực thể tự nhiên đã bị xâm phạm gây tổn thất về thể chất, tinh thần, tình cảm hoặc về kinh tế có nguyên nhân trực tiếp từ hành vi vi phạm luật hình sự của một nước thành viên” [56, tr.
Từ các quan điểm và định nghĩa nêu trên, có thể định nghĩa nạn nhân của tội phạm theo nghĩa hẹp như sau: “Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân chịu thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra”. Quan điểm thứ hai, xác định nạn nhân của tội phạm theo nghĩa rộng: Theo nghĩa rộng, nạn nhân của tội phạm không chỉ bao gồm thể nhân mà còn bao gồm cả pháp nhân bị hành vi phạm tội xâm hại. Người đầu tiên xác định nạn nhân của tội phạm bao gồm cả các tổ chức đó là Fritz R. Paasch khi ông bàn đến nạn nhân của các tội phạm về kinh tế.
Theo ông, nạn nhân của các tội phạm về kinh tế là các cá nhân con người (thể nhân) và các pháp nhân bị xâm hại các quyền và lợi ích được pháp luật ghi nhận [42]. Văn bản quan trọng làm cơ sở cho việc định nghĩa nạn nhân của tội phạm theo nghĩa rộng là Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản về tư pháp đối với nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng sức mạnh của Liên hợp quốc ban hành ngày 29/11/1985. Điều 1 của Tuyên bố xác định: “Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân hay tổ chức bị hành vi phạm tội (theo quy định của luật hình 8 sự của các nước thành viên) xâm phạm, gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tình cảm, kinh tế hoặc những thiệt hại đáng kể về các quyền cơ bản” [57, tr. Theo quy định này thì nạn nhân của tội phạm không chỉ bao gồm các cá nhân mà bao gồm cả các tổ chức.
Ngoài ra, khoản 2 của Tuyên bố xác định: “Nạn nhân của tôi phạm không chỉ bao gồm những người trực tiếp bị hành vi phạm tội xâm hại mà còn bao gồm cả những người thân trong gia đình, những người phụ thuộc vào nạn nhân và cả những người chịu thiệt hại trong quá trình trợ giúp nạn nhân” [57, tr. Theo đó, nội hàm khái niệm nạn nhân của tội phạm đã được mở rộng không chỉ những người bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại (nạn nhân trực tiếp) mà còn bao gồm cả những nạn nhân gián tiếp (những người chịu thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra). Với quan điểm này, khái niệm nạn nhân của tội phạm không chỉ được mở rộng ra các tổ chức mà còn được mở rộng ra cả những nạn nhân gián tiếp. Việc xác định nạn nhân của tội phạm bao gồm cả nạn nhân trực tiếp và nạn nhân gián tiếp có ý nghĩa quan trọng, giúp cho việc đánh giá chính xác hậu quả thiệt hại mà hành vi phạm tội gây ra từ đó xác định chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Ngoài ra, việc xác định nạn nhân gián tiếp còn có ý nghĩa trong việc xác định về bồi thường và trợ giúp cho nạn nhân của tội phạm. Từ sự phân tích ở trên, có thể hiểu nạn nhân của tội phạm theo nghĩa rộng như sau: “Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức đã chịu thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội gây ra”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Tráng, một trong những người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu nạn nhân của tội phạm tại Việt Nam, trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu các quan điểm về nạn nhân của tội phạm của các nhà nghiên cứu, đã đưa ra định nghĩa nạn nhân của tội phạm như sau: “Nạn nhân 9 của tội phạm là những cá nhân, tổ chức phải chịu những thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội gây ra” [42, tr. Theo tác giả, định nghĩa nạn nhân của tội phạm theo quan điểm của nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Tráng là định nghĩa cơ bản, tổng hợp và toàn diện nhất.
Theo đó nạn nhân của tội phạm bao gồm hai nét đặc trưng cơ bản sau: Một là, nạn nhân của tội phạm có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Cá nhân là nạn nhân của tội phạm phải là những người đang tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra, nghĩa là hành vi phạm tội phải xâm hại đến một người đang tồn tại trong thế giới khách quan để gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại. Còn đối với nạn nhân là tổ chức phải là những tổ chức hợp pháp có tài sản, còn tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra. Hai là, cá nhân, tổ chức đó phải chịu những thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội gây ra.2 Phân loại Trong tội phạm học, có nhiều cách phân loại nạn nhân của tội phạm.
Tùy vào mục đích nghiên cứu khác nhau mà có các căn cứ phân loại khác nhau, cho ra những cách phân loại khác nhau. Trong đó, có những cách phân loại phổ biến sau: Thứ nhất, căn cứ vào địa vị pháp lý của nạn nhân, có thể chia nạn nhân của tội phạm thành 02 nhóm: - Nhóm nạn nhân là cá nhân: Đây là nhóm nạn nhân phổ biến của tội phạm. Nhóm nạn nhân này có thể bị hành vi phạm tội xâm hại về cả tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tinh thần, tình cảm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác. Nhóm nạn nhân là cá nhân không chỉ bao gồm những nạn nhân trực tiếp mà bao gồm cả những nạn nhân gián tiếp.
10 - Nhóm nạn nhân là tổ chức: Đây là nhóm nạn nhân chỉ có thể bị hành vi phạm tội xâm hại về mặt kinh tế. Chính vì vậy nhóm nạn nhân này chỉ có các nạn nhân trực tiếp chứ không có các nạn nhân gián tiếp. Nhóm nạn nhân là tổ chức phải là những tổ chức hợp pháp có tài sản, còn tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra. Thứ hai, căn cứ vào cơ chế tác động của hành vi phạm tội đến nạn nhân, có thể chia nạn nhân của tội phạm thành 03 nhóm: - Nhóm nạn nhân trực tiếp: Là những cá nhân, tổ chức bị hành vi phạm tội gây thiệt hại trực tiếp về thể chất, tinh thần, tài sản hay các quyền và lợi ích hợp pháp khác.
- Nhóm nạn nhân thứ cấp (nạn nhân gián tiếp): Nạn nhân thứ cấp là những cá nhân mặc dù hành vi phạm tội không trực tiếp tác động đến họ nhưng do họ có mối quan hệ đặc biệt đối với nạn nhân trực tiếp nên hành vi phạm tội đã gián tiếp tác động đến họ, gây ra những tổn hại về tinh thần, tình cảm, sức khoẻ và thậm chí là những thiệt hại về kinh tế. - Nhóm nạn nhân mở rộng (nạn nhân thứ ba): Nhóm nạn nhân này chỉ phạm vi rộng hơn những người chịu ảnh hưởng tác động sâu sắc của hành vi phạm tội. Đây là những người mặc dù không phải là những người thân thích của nạn nhân nhưng sự kiện phạm tội đã tác động trực tiếp đến những người này và gây ra những tổn thất lớn về tinh thần, tình cảm cho họ. Những người này có thể là những người chứng kiến hành vi phạm tội, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm, những người tham gia cứu hộ, cứu chữa.
Thứ ba, căn cứ vai trò của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội, có thể chia nạn nhân của tội phạm thành 02 nhóm: - Nạn nhân có lỗi: Là những nạn nhân đã có các hành vi xử sự không đúng chuẩn mực đạo đức, pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi hoặc thúc đẩy hành vi phạm tội thực hiện.