CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ THỊ PHẦN BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI BÊN THỨ 3 1. Bảo hiểm Trách Nhiệm Dân Sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ 3 1. Khái quát chung 1.Khái niệm Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm. Theo Dennis Kessler, "Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít." Còn theo Monique Gaullier, "Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm.
Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê." Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm phát sinh do vi phạm nghĩa vụ dân sự. Trong đó nghĩa vụ dân sự chính là việc mà theo quy định của pháp luật thì một hoặc nhiều chủ thể không được làm hoặc bắt buộc làm một hành động nào đó đối với một hoặc nhiều chủ thể khác. Người chịu trách nhiệm dân sự mà không thực hiện đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đó thì phải chịu trách nhiệm đối với người bị hại và trước pháp luật. Nhìn chung thì trách nhiệm dân sự là trách nhiệm bồi thường về vật chất và tinh thần.
Trong đó trách nhiệm bồi thường về vật chất và tinh thần là trách nhiệm bồi thường những tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm nghĩa vụ dân sự gây ra bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí ngăn chặn thiệt hại, thu nhập thực tế bị giảm sút. Người thiệt hại về tinh thần đối với người khác do xâm phạm đến tính mạng sức khỏe, danh dự, uy tín của người khác thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị hại trong pháp luật dân sự thì ngoài việc gây ra thiệt hại đối với người bị hại còn phải do hành vi vó lỗi của chủ thể mới phát sinh trách nhiệm dân sự. 6 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một loại hình bảo hiểm mà nguời bảo hiểm cam kết bồi thường phần trách nhiệm dân sự của người bảo hiểm theo cách thức và hạn mức đã được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng với điều kiện người tham gia bảo hiểm phải đóng một khoản phí tương ứng. Mục đích của người tham gia chính là chuyển giao phần trách nhiệm dân sự của mình mà chủ yếu là trách nhiệm bồi thường.
Nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự ra đời từ rất sớm và ngày càng phát triển. “Chủ xe cơ giới” (tổ chức, cá nhân) là chủ sở hữu xe cơ giới hoặc được chủ sở hữu xe cơ giới giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp, điều khiển xe cơ giới. “Xe cơ giới” bao gồm xe ô tô, máy kéo, xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng (kể cả rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc được kéo bởi xe ô tô hoặc máy kéo), xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự (kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật) có tham gia giao thông. “Bên thứ ba” là người bị thiệt hại về thân thể, tính mạng, tài sản do xe cơ giới gây ra, trừ những người sau: + Lái xe, phụ xe trên chính chiếc xe đó; + Người trên xe và hành khách trên chính chiếc xe đó; + Chủ sở hữu xe trừ trường hợp chủ sở hữu đã giao cho tổ chức, cá nhân khác chiếm hữu, sử dụng chiếc xe đó.
Nội dung a, Đối tượng bảo hiểm Theo điều 5 chương II của NĐ 115 CP/1997: “ Đối tượng được bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba. Trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là trách nhiệm bồi thường hay nghĩa vụ ngoài hợp đồng của chủ xe hay lái xe cho người thứ ba do việc lưu hành xe gây tai nạn”. Trong đó, bên thứ 3 được hiểu là người bị thiệt hại về thân thể, tài sản do xe cơ giới gây ra loại trừ người trên xe, lái phụ xe và hành khách trên chính chiếc xe đó. 7 Người tham gia bảo hiểm thông thường là chủ xe, có thể là cá nhân hay đại diện cho một tập thể.
Người bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm cho một phần trách nhiệm dân sự của chủ xe phát sinh do sự hoạt động và điều khiển xe cơ giới của người lái xe. Như vậy đối tượng được bảo hiểm là TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 là trách nhiệm hay nghĩa vụ bồi thường ngoài hợp đồng của chủ xe hay lái xe cho người thứ 3 do việc lưu hành gây tai nạn. Đối tượng được bảo hiểm không được xác định trước, chỉ khi nào việc lưu hành xe gây ra tai nạn có phát sinh TNDS của chủ xe đối với người thứ 3 thì đối tượng này mới được xác định cụ thể. b, Điều kiện phát sinh BH TNDS đối với bên thứ 3 Nhìn chung, có 4 điều kiện phát sinh BN TNDS của chủ xe cơ giới đối với bên thứ 3: - Điều kiện 1: Có thiệt hại về tài sản, tính mạng hoặc sức khoẻ của bên thứ 3.
- Điều kiện 2: Chủ xe (lái xe) phải có hành vi pháp luật. Có thể do vô tình hay cố ý mà lái xe vi phạm luật giao thông đường bộ, hoặc vi phạm các quy định khác của Nhà nước. - Điều kiện 3: Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của chủ xe (lái xe) với những thiệt hại của người thứ 3. Hành vi trái pháp luật phải là nguyên nhân trực tiếp có ý thức quyết định dẫn đến thiệt hại thực tế xảy ra, đó là kết quả tất yếu.
Nếu không xác định được mối quan hệ này thì không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp đó có những hành vi trái pháp luật là nguyên nhân chính gây ra thiệt hại, nhưng không có mối quan hệ nhân quả không có trách nhiệm bội thường. - Điều kiện 4: Chủ xe phải có lỗi. Lỗi do trạng thái tâm lý của chủ xe nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó.
Lỗi biểu hiện dưới hình thức vô tình hay cố ý. Việc xác định hình thức và mức lỗi là căn cứ vào diễn biến cụ thể của sự việc về thời gian, địa điểm, những điều kiện khách quan và trình độ nhận thức của người gây thiệt hại. Lỗi là cơ sở để tính toán trách nhiệm bồi thường của chủ xe khi gây ra tai nạn cho người thứ 3 tuy nhiên không phải bất kỳ vụ tai nạn nào người lái xe cũng có lỗi. Thực tế những vụ tai nạn xảy ra không do lỗi của ai mà 8 nguyên nhân do sự hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ như: xe đang chạy bị nổ nồi hơi gây tai nạn, xe bị nổ lốp, xe không điều khiển được tay lái gây ra tai nạn, xe đứt phanh khi đang xuống dốc., trong trường hợp này, TNDS vẫn có thể phát sinh nếu có đủ 3 điều kiện đầu.
Nếu thiếu 1 trong 3 điều kiện đầu tiên TNDS của chủ xe không phát sinh và do đó không phát sinh trách nhiệm của bảo hiểm. điều kiện 4 có thể có hoặc không, vì nhiều khi tai nạn xảy ra là do tính nguy hiểm cao độ của xe cơ giới mà không hoàn toàn do lỗi của chủ xe. Phạm vi bảo hiểm - Các rủi ro được bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận bảo đảm cho các rủi ro bất ngờ không lường trước được gây ra tai nạn và làm phát sinh TNDS của chủ xe.
Công ty bảo hiểm bồi thường những thiệt hại về vật chất, về người, về tài sản được tính toán theo những nguyên tắc nhất định. Theo mục 3 điều 11 chương II thì “công ty bảo hiểm còn phải thanh toán cho chủ xe những chi phí mà họ đã chi ra nhằm phòng ngừa hạn chế thiệt hại. Những chi phí này chỉ được bồi thường khi nó phát sinh sau khi tai nạn xảy ra và được coi là chi phí cần thiết và hợp lý” .Bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường phần TNDS của chủ xe phát sinh đối với người thứ ba đối với các thiệt hại sau: +Thiệt hại về tính mạng và tình trạng sức khoẻ của bên thứ 3; +Thiệt hại về tài sản, hàng hoá. của bên thứ 3; +Thiệt hại tài sản làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh hoặc giảm thu nhập; +Các chi phí cần thiết và hợp lý để thực hiện các biện pháp đề xuất của cơ quan bảo hiểm (kể cả biện pháp không mang lại hiệu quả); +Những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của những người tham gia cứu chữa ngăn ngừa tai nạn, chi phí cấp cứu và chăm sóc nạn nhân.
- Các rủi ro loại trừ. Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn mặc dù có phát sinh TNDS trong các trường hợp sau: 9 + Hành động cố ý của chủ xe, lái xe và người bị thiệt hại. + Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để tham gia giao thông theo quy định của điều lệ trật tự an toàn giao thông đường bộ. + Chủ xe hoặc lái xe vi phạm nghiêm trọng trật tự an toàn giao thông đường bộ như: + Xe không có giấy phép lưu hành, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trường.
+ Lái xe không có bằng lái hoặc bị tịch thu , bằng không hợp lệ. + Lái xe bị ảnh hưởng của các chất kích thích như: rượu, bia,ma tuý. + Xe chở chất cháy, chất nổ trái phép. + Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử sau khi sửa chữa.
+ Xe đi vào đường cấm, đi đêm không có đèn, hoặc chỉ có đèn bên phải. + Thiệt hại do chiến tranh, bạo động. + Thiệt hại gián tiếp do tai nạn như giảm giá trị thương mại, làm đình trệ sản xuất kinh doanh. + Thiệt hại đối với tài sản bị cướp, mất cắp trong tai nạn.
+ Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia, trừ khi có thoả thuận khác. + Ngoài ra, người bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm đối với tài sản đặc biệt như vàng bạc, đá quý, tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt.