Tổng quan nghiên cứu

Bệnh viện K cơ sở Tân Triều là cơ sở y tế chuyên khoa ung bướu hàng đầu với quy mô thiết kế trên 1000 giường bệnh, trong đó Khoa Nhi trực tiếp quản lý 50 giường bệnh nội trú chuyên tiếp nhận và điều trị cho các bệnh nhi dưới 16 tuổi. Quá trình chữa trị các bệnh lý ác tính phức tạp như u nguyên bào thần kinh, bạch cầu cấp, u lympho đòi hỏi thời gian kéo dài, tạo ra những cơn sang chấn tâm lý nặng nề và gánh nặng tài chính nghiêm trọng cho thân nhân người bệnh. Đội ngũ gồm 18 cán bộ y tế tại Khoa Nhi thường xuyên phải làm việc trong tình trạng quá tải chuyên môn, dẫn đến khoảng trống lớn trong việc hỗ trợ tâm lý - xã hội cho gia đình bệnh nhân. Người nhà chăm sóc người bệnh tuy đóng vai trò then chốt trong phác đồ điều trị nhưng lại là nhóm đối tượng chịu nhiều tổn thương và ít nhận được sự trợ giúp chuyên biệt.

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội của học viên Đỗ Thị Thùy Dung, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hồi Loan tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã thực hiện đề tài "Xây dựng mô hình tự hỗ trợ cho người nhà chăm sóc bệnh nhân trong bệnh viện (Nghiên cứu tại Khoa Nhi Bệnh viện K3 - Tân Triều - Hà Nội)". Nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 12/2016 đến tháng 4/2017 nhằm đánh giá toàn diện các nhóm nhu cầu của 70 người nhà chăm sóc bệnh nhi nội trú, từ đó thiết kế và thử nghiệm mô hình nhóm tự lực phù hợp với bối cảnh bệnh viện công lập.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi bám sát các định hướng lớn của Đảng và Nhà nước, cụ thể là Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội và Thông tư số 43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế quy định nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện. Đề tài mở ra hướng tiếp cận mới trong việc phát huy nội lực tương trợ đồng đẳng, giúp hơn 90% người chăm sóc giải tỏa căng thẳng và giảm bớt áp lực tư vấn phi y tế cho các y bác sĩ điều trị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng của hai khung lý thuyết khoa học: Thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow và Thuyết hệ thống sinh thái. Thuyết Maslow phân chia 5 tầng nhu cầu của con người bao gồm: sinh lý, an toàn, xã hội, tôn trọng và tự khẳng định bản thân. Khi người nhà chăm sóc bệnh nhi đối mặt với khủng hoảng bệnh tật, các nhu cầu cơ bản về ăn ở, an toàn sinh mạng bị đe dọa nghiêm trọng, khiến nhu cầu xã hội về sự thấu cảm, gắn kết và chia sẻ thông tin trở thành động lực then chốt để họ duy trì trạng thái cân bằng. Đồng thời, Thuyết hệ thống sinh thái do Meyer hoàn thiện giúp phân tích 4 thành tố cấu trúc gồm hành vi, kết cấu, văn hóa và diễn biến tương tác giữa cá nhân người chăm sóc với các hệ thống xung quanh như gia đình, buồng bệnh, đội ngũ y tế và cộng đồng xã hội.

Hệ thống khái niệm công cụ được chuẩn hóa bao gồm: Công tác xã hội lâm sàng trong bệnh viện, Nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp theo tiêu chuẩn Thông tư 07/2010/TT-BNV, Mô hình trợ giúp xã hội, và Khái niệm Nhóm tự hỗ trợ (Self-help group) theo định nghĩa của giáo sư Tomofumi Oka là mô hình tập hợp các cá nhân có cùng hoàn cảnh khó khăn cùng tương trợ, san sẻ kinh nghiệm nhằm vượt qua nghịch cảnh.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp chặt chẽ giữa phân tích định tính và khảo sát định lượng. Cỡ mẫu định lượng gồm N = 70 người nhà đang trực tiếp chăm sóc bệnh nhi nội trú từ 1 tháng trở lên tại Khoa Nhi. Phương pháp chọn mẫu cộng dồn thuận tiện được áp dụng do đặc thù bệnh nhân nhập viện và xuất viện liên tục không cố định. Quá trình thu thập dữ liệu bằng bảng hỏi cấu trúc 12 câu diễn ra trực tiếp tại 5 phòng bệnh từ ngày 26/3/2017 đến ngày 30/3/2017. Dữ liệu sau đó được mã hóa, làm sạch và xử lý trên phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20 để tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm và kiểm định các mối tương quan.

Phương pháp nghiên cứu định tính thực hiện 20 cuộc phỏng vấn sâu có ghi âm và lập biên bản đối với: 01 Trưởng khoa Nhi (TS.BS Trần Văn Công), 02 điều dưỡng và bác sĩ có thâm niên từ 3 năm trở lên, 10 người nhà bệnh nhân, 02 thành viên nhóm đồng đẳng là thân nhân từng có con điều trị tại viện, và 05 tình nguyện viên thuộc Câu lạc bộ Nụ cười. Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp được tiến hành trên các báo cáo ngành y tế, văn bản chính sách và kỷ yếu 15 năm thành lập Khoa Nhi. Phương pháp quan sát tham dự tại các buồng bệnh giúp kiểm chứng mức độ tương tác hành vi hàng ngày, bảo đảm tính xác thực và chiều sâu cho toàn bộ công trình nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra 70 phiếu khảo sát ghi nhận 71.4% người trực tiếp chăm sóc bệnh nhi là nữ giới (50 người) và 28.6% là nam giới (20 người), trong đó 58.6% là cha mẹ ruột của trẻ. Cơ cấu độ tuổi tập trung chủ yếu ở giai đoạn lao động sung sức từ 31 đến 60 tuổi với 70%, nhóm dưới 30 tuổi chiếm 20% và trên 60 tuổi chiếm 10%. Về điều kiện kinh tế xã hội, có tới 30% gia đình thuộc diện hộ nghèo, 11.4% hộ cận nghèo; 44.3% làm nông nghiệp và 12.9% làm công nhân. Đáng chú ý, 62.9% người được hỏi (44 trường hợp) đã phải đồng hành chăm sóc bệnh nhi liên tục trên 1 năm.

Về gánh nặng thực tế, khó khăn về tài chính chiếm tỷ lệ cao nhất với 67.1%, tiếp theo là khó khăn trong sinh hoạt cá nhân chiếm 20%, vấn đề dinh dưỡng chiếm 4.3% và các áp lực khác chiếm 8.6%. Khi gặp bế tắc, 32.9% người nhà chủ động tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người nhà bệnh nhân khác trong cùng buồng bệnh, cao hơn tỷ lệ 27.1% tìm đến các nhà tài trợ từ thiện và 25.7% tìm gặp bác sĩ. Khảo sát thực tế chỉ ra 96.8% thân nhân đã từng nhận được sự trợ giúp từ những người xung quanh, chỉ có 3.2% chưa nhận do mới nhập viện. Các hoạt động tương trợ phổ biến bao gồm: mua thuốc hộ chiếm 31.4%, chia sẻ thông tin về bệnh lý chiếm 28.6%, hướng dẫn kỹ năng chăm sóc chiếm 20%, và giới thiệu nhà trọ giá rẻ chiếm 15.7%. Đánh giá mức độ hài lòng về sự hỗ trợ đồng đẳng đạt mức rất cao với 91.3% (trong đó 42% đánh giá rất nhiệt tình và 49.3% đánh giá nhiệt tình).

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự vận hành chính xác của thuyết thang bậc nhu cầu Maslow: khi các nguồn lực tài chính bị khuyết thiếu, nhu cầu gắn kết xã hội và an ủi tinh thần trở thành điểm tựa sống còn. Những trích dẫn từ phỏng vấn sâu như "Coi nhau như người nhà" hay "Một lời động viên có giá trị" cho thấy sức mạnh của sợi dây liên kết tự nhiên giữa những người cùng hoàn cảnh. Trong các báo cáo phân tích, dữ liệu khảo sát có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu nhân khẩu học (giới tính, nghề nghiệp nông dân chiếm 44.3%) và biểu đồ cột so sánh mức độ ưu tiên của 4 kênh tìm kiếm sự trợ giúp trong bệnh viện.

So sánh với các nghiên cứu của Dương Thị Phương tại Bệnh viện Nhi Trung ương hay Lương Bích Thủy tại Bệnh viện K cơ sở Quán Sứ, luận văn đã tạo bước đột phá khi không coi người nhà là đối tượng thụ động chờ viện trợ, mà nhìn nhận họ như những chủ thể tích cực có thể tự tổ chức mô hình tự lực buồng bệnh. Mạng lưới này giải quyết kịp thời các nhu cầu vi mô như trông trẻ, mua cơm, truyền thuốc trong bối cảnh Khoa Nhi có 50 giường bệnh nhưng chưa có nhân viên công tác xã hội chuyên trách thường trực, từ đó bù đắp hoàn hảo cho khoảng trống dịch vụ y tế hiện hành.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuẩn hóa và duy trì mô hình tự hỗ trợ cho thân nhân người bệnh, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

Thứ nhất, thành lập Câu lạc bộ "Đồng hành cùng con" tại Khoa Nhi Bệnh viện K3 do Phòng Công tác xã hội chủ trì phối hợp với Ban chủ nhiệm khoa, bắt đầu vận hành từ Quý 3/2017. Mục tiêu là kết nối 100% người nhà bệnh nhi mới nhập viện vào mạng lưới hỗ trợ đồng đẳng trong vòng 24 giờ đầu để hướng dẫn quy chế buồng bệnh và ổn định tâm lý.

Thứ hai, biên soạn cuốn "Cẩm nang chăm sóc và địa chỉ lưu trú giá rẻ" quanh khu vực Bệnh viện K Tân Triều do nhóm đồng đẳng phối hợp cùng 13 tình nguyện viên Câu lạc bộ Nụ cười thực hiện trong 6 tháng. Mục tiêu giúp cắt giảm 35% chi phí sinh hoạt phát sinh cho ít nhất 70 gia đình bệnh nhân nghèo điều trị nội trú dài ngày.

Thứ ba, tổ chức định kỳ các buổi sinh hoạt chuyên đề nhóm vào chiều thứ Sáu hàng tuần do nhân viên công tác xã hội và điều dưỡng trưởng điều phối. Hoạt động này đặt mục tiêu trang bị kỹ năng chăm sóc và giải tỏa áp lực tâm lý cho trên 85% người chăm sóc, đồng thời duy trì tỷ lệ hài lòng về dịch vụ bệnh viện trên mức 95%.

Thứ tư, kiến nghị Bộ Y tế ban hành hướng dẫn phân bổ định biên vị trí việc làm nhân viên công tác xã hội theo Thông tư 43/2015/TT-BYT, đồng thời tăng cường chính sách bảo hiểm y tế chi trả thuốc đặc trị cho 100% bệnh nhi thuộc diện 30% hộ nghèo và 11.4% cận nghèo trong giai đoạn 2017-2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng:

  • Lãnh đạo bệnh viện và cán bộ quản lý y tế: Nắm bắt quy trình thiết lập mô hình công tác xã hội lâm sàng và giải pháp giảm tải cho nhân viên y tế thông qua mạng lưới tự lực của thân nhân người bệnh.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên ngành Công tác xã hội, Tâm lý học y tế: Sử dụng làm tài liệu tham khảo mẫu mực về kỹ thuật kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính (20 phỏng vấn sâu) và định lượng (70 mẫu xử lý trên SPSS) trong môi trường y khoa chuyên sâu.
  • Các tổ chức phi chính phủ, quỹ thiện nguyện và đội ngũ tình nguyện viên: Thấu hiểu chính xác 3 nhu cầu cấp thiết nhất của người chăm sóc (tài chính 67.1%, chia sẻ chuyên môn 28.6%, sinh hoạt 20%) để xây dựng các chương trình trợ giúp đúng mục tiêu, tránh phân tán nguồn lực.
  • Gia đình người bệnh và các nhóm đồng đẳng: Học tập phương pháp tổ chức sinh hoạt nhóm, quản trị căng thẳng và kỹ năng tương trợ thiết thực trong quá trình điều trị bệnh hiểm nghèo dài ngày.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình tự hỗ trợ trong bệnh viện mang lại lợi ích gì cho đội ngũ nhân viên y tế? Mô hình giúp giảm tải áp lực tư vấn thông thường và giải tỏa xung đột tâm lý buồng bệnh. Khi 32.9% người nhà tự hỗ trợ nhau về sinh hoạt và kỹ năng chăm sóc, nhân viên y tế có thêm thời gian tập trung vào 25.7% yêu cầu chuyên môn khám chữa bệnh phức tạp.

Tại sao người nhà bệnh nhi có xu hướng tìm sự giúp đỡ từ thân nhân khác nhiều hơn bác sĩ? Sự đồng cảnh ngộ tạo ra niềm tin xã hội tự nhiên và sự thấu cảm sâu sắc. Do 62.9% trường hợp phải nằm viện trên 1 năm và 70% thuộc lứa tuổi lao động 31-60 tuổi, họ dễ dàng chia sẻ việc mua thuốc hộ (31.4%) hay trông con hộ trong cuộc sống hàng ngày.

Khó khăn lớn nhất của người chăm sóc bệnh nhân tại Khoa Nhi Bệnh viện K3 là gì? Khủng hoảng tài chính là rào cản nghiêm trọng nhất chiếm 67.1% phản hồi. Nguyên nhân do 44.3% gia đình làm nông nghiệp, 30% thuộc hộ nghèo nhưng phải chi trả nhiều khoản viện phí và thuốc ngoài danh mục bảo hiểm trong thời gian kéo dài.

Cần những điều kiện gì để duy trì mô hình tự hỗ trợ hoạt động hiệu quả và bền vững? Mô hình cần sự định hướng chuyên môn từ Phòng Công tác xã hội theo Thông tư 43/2015/TT-BYT, kết hợp với vai trò dẫn dắt của các hạt nhân trong nhóm đồng đẳng và sự tiếp sức của 13 tình nguyện viên thuộc Câu lạc bộ Nụ cười.

Nghiên cứu đã vận dụng những lý thuyết nền tảng nào để phân tích dữ liệu? Đề tài kết hợp Thuyết bậc thang nhu cầu 5 cấp độ của Abraham Maslow nhằm phân loại các tầng bậc bức thiết của người chăm sóc và Thuyết hệ thống sinh thái của Meyer để đánh giá 4 chiều tương tác giữa cá nhân, buồng bệnh và cơ sở y tế.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện bức tranh thực tế của 70 người nhà chăm sóc bệnh nhi tại Khoa Nhi Bệnh viện K3 Tân Triều, làm rõ 67.1% khó khăn tài chính và 70% người chăm sóc trong độ tuổi lao động.
  • Chứng minh tính tất yếu và hiệu quả vượt trội của mô hình tự hỗ trợ đồng đẳng buồng bệnh với mức độ hài lòng thực tế đạt 91.3%.
  • Góp phần giảm áp lực chuyên môn cho 18 y bác sĩ Khoa Nhi thông qua việc huy động nội lực tương thân tương ái giữa các gia đình bệnh nhân.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp can thiệp khả thi, liên kết chặt chẽ giữa bệnh viện, nhóm đồng đẳng và cơ quan quản lý y tế giai đoạn 2017-2020.
  • Khẳng định giá trị nhân văn của nghề Công tác xã hội trong việc nâng đỡ các nhóm yếu thế tại hệ thống bệnh viện chuyên khoa ở Việt Nam.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi việc thử nghiệm nhân rộng mô hình tự hỗ trợ sang các khoa lâm sàng khác tại Bệnh viện K từ Quý 4/2017, tiến tới chuẩn hóa thành quy trình chăm sóc toàn diện trên toàn quốc vào năm 2020. Các nhà quản lý y tế, cán bộ công tác xã hội và cộng đồng hãy cùng chung tay áp dụng mô hình tự hỗ trợ để tiếp thêm nghị lực cho các gia đình bệnh nhi trên hành trình chiến đấu với bệnh tật.