CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH PHÁP LÝ “CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON” 1. KHÁI NIEM MÔ HÌNH PHAP LY CÔNG TY ME - CÔNG TY CON 1. Cơ sở phap lý của việc hình thành quan hộ công ty me - công ty con Khi nền sản xuất hàng hoá phát triển đến một mức độ nhất định, các nhà kinh doanh đã liên kết với nhau để đáp ứng nhu cầu về vốn nhằm thực hiện mục đích mở mang hoạt động kinh doanh của mình và cũng để chia sẻ rủi ro trong các vụ đầu tư. Sự tin tưởng vào các mối quan hệ làm ăn lâu dài được chuyển hoá thành các hình thức tổ chức kinh doanh dựa trên sự hùn chung vốn mà ban đầu là hội buôn hợp danh, được gọi là Công ty (company) với nghĩa gốc ban đầu là hội các chiến hữu - bằng hữu (xuất phát từ từ companion là chiến hữu, bằng hữu- tiếng Latin là compainis).
Khi hai hay nhiều người góp vốn để hình thành một liên kết mang tính tổ chức nhằm cùng nhau tiến hành hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận tức là họ đã thành lập một công ty. Công ty là mô hình tổ chức được hình thành, phát triển phù hợp quy luật và đòi hỏi tự thân của nền kinh tế thị trường về trình độ tổ chức và quản lý vốn đầu tư. Ngay từ khi ra đời, nó đã tạo được sự hấp dẫn với những người kinh doanh và sau đó không ngừng được cải tổ, phái sinh ra nhiều loại hình nhằm góp phần hạn chế những rủi ro cho các doanh nhân trong điều kiện các quan hệ kinh tế càng trở nên phức tạp. Các công cụ cho phép thực hiện quyền sở hữu, sử dụng vốn trong chế định công ty như cổ phiếu, trái phiếu, hợp đồng góp vốn v.
cũng chính là những phương tiện pháp lý quan trọng nhất để phân định, xử lý các quan hệ về quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên cùng tham gia hùn hạp. Ở dây, cần phải kể đến tác động của quá trình công nghiệp hoá, cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng, thị trường tài chính trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản công nghiệp (cuối thế ky 18 đến khoảng 1870) đã thúc đẩy sự đi chuyển một cách linh hoạt các luồng vốn của chủ sở hữu ở các doanh nghiệp khác nhau nhằm tìm kiếm lợi nhuận và phân chia rủi ro. Tuy nhiên, trong khi năng lực quản lý, điều hành của chủ doanh nghiệp là có hạn về quy mô tổ chức một cơ cấu sản xuất - kinh doanh thì nhu cầu tăng vốn đầu tư kiếm lời là không có giới hạn. Bên cạnh đó, bản thân chủ doanh nghiệp cũng chỉ có thể chuyên kinh doanh trong một vài lĩnh vực trong khi họ lại cần mở rộng phạm vi ngành nghề kinh doanh để phân tán rủi ro.
Những mâu thuẫn Đăng Thu Thuy/Ludn văn Thạc sĩ Luét/2003 11 này chỉ có thể được giải quyết thong qua việc doanh nghiệp tự minh đưa vốn (vốn tự có hoặc vốn vay) vào sản xuất - kinh doanh ở một địa bàn hoặc một ngành nghề nhất định trong khuôn khổ việc thành lập doanh nghiệp mới theo các hình thức mà pháp luật quy định hoặc mua lại để điều hành doanh nghiệp đã có san từ chủ sở hữu khác. Với việc thực hiện hành vi đầu tư trực tiếp nay, một doanh nghiệp đã thực hiện quyền chi phối, kiểm soát của mình đối với doanh nghiệp khác dựa trên quyền sở hữu về vốn (theo tỷ lệ mức vốn góp trong doanh nghiệp) và tạo nên một quan hệ liên kết chặt chế và bền vững giữa doanh nghiệp đầu tư và doanh nghiệp nhận vốn đầu tư. Một doanh nghiệp với tư cách chủ sở hữu của doanh nghiệp khác có thể bỏ ra toàn bộ vốn đầu tư hoặc hùn vốn với nhiều nhà đầu tư khác (đồng chủ sở hữu). Quyền chi phối, kiểm soát hay thâu tóm doanh nghiệp này được ví như trong quan hệ giữa người mẹ đối với con.
Như vậy, về mặt cơ sở pháp lý, việc nhìn nhận một quan hệ công ty mẹ - công ty con phải xuất phát từ địa vị pháp lý của doanh nghiệp thuộc một trong số các loại hình pháp luật quy định, cho phép nó được thực hiện quyền đầu tư để trở thành chủ sở hữu tại doanh nghiệp khác có vốn đầu tư của nó. Tuy nhiên, trước hết chúng ta cần làm rõ từng đối tượng là công ty mẹ và công ty con trong mối quan hệ này. Công ty mẹ Công ty mẹ là doanh nghiệp được thành lập, đăng ký hoạt động theo quy chế pháp lý của một số loại hình doanh nghiệp, thực hiện việc nắm giữ toàn bộ (100%) vốn diéu lệ hoặc nắm giữ cổ phần (hoặc vốn góp) ở mức chi phối (>50%) ở một hoặc nhiều công ty khác, được gọi là công ty con của công ty này. Sở hữu về vốn của công ty mẹ ở công ty con là cơ sở vững chắc duy nhất cho việc tạo ra quyền lực hợp pháp của công ty mẹ nhằm chi phối công ty con Quyền lực của công ty mẹ thể hiện ở hai quyền cơ bản sau đây: - Quyền quyết định hình thức tổ chức của công ty con cho phù hợp với các mục tiêu phát triển trong các ngành, lĩnh vực cụ thể.
Ví dụ, công ty mẹ có thể quyết định công ty con là công ty TNHH một chủ sở hữu duy nhất là công ty mẹ, nếu bản thân nó muốn quyết định và hưởng dụng toàn bộ kết quả sản xuất - kinh doanh của công ty con (có thể có những lợi thế, hoặc ưu thế đặc biệt về địa bàn, sản phẩm có thương hiệu mang tính độc quyền). Trong trường hợp công ty mẹ thấy cần phải chia sẻ rủi ro cũng như lợi nhuận cho một số nhà đầu tư khác, nó có thể quyết định chuyển đổi công ty con thành hình thức công ty cổ phần. - Quyền quyết định của công ty mẹ về nhân sự chủ chốt của công ty con (như thành viên Hội đồng quản trị và Giám đốc). Đây là yếu tố tạo tiền đề cho sự can thiệp gián tiếp vào định hướng chiến lược phát triển, cách thức tổ Đông Thu Thuỷ/Luộn văn Thạc sĩ Luậ†/2003 12 chức, quan lý sản xuất - kinh doanh, cơ cấu chi tiêu, thị trường tiêu thụ, đối tác làm ăn v.
của công ty con. Cần lưu ý là khi thiết kế quan hệ công ty mẹ - công ty con cho các Tổng công ty nhà nước và doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô lớn ở nước ta, người ta có xu hướng nhìn nhận quyền chi phối việc quyết định chiến lược, kế hoạch đầu tư, phát triển của công ty con là một quyền chi phối độc lập thứ ba của công ty mẹ, như hai quyền nêu trên. Điều này cho thấy rõ ràng có sự ảnh hưởng từ thực tế hiện tại, khi mà quan hệ giữa Tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn với các đơn vị thành viên là quan hệ mang nặng tính chất kế hoạch hoá giữa các cấp hành chính - mệnh lệnh (Tổng công ty phê duyệt các kế hoạch, chỉ tiêu - định mức sản xuất - kinh doanh của đơn vị thành viên). Thực chất là khi đã chuyển thành quan hệ công ty mẹ - công ty con thì công ty mẹ chỉ có quyền chi phối gián tiếp về mặt chiến lược, kế hoạch mà thôi vì về phương diện pháp lý cả “mẹ” lẫn “con” đều độc lập và bình đẳng với nhau về tư cách pháp nhân (đặc điểm nêu trong Mục 1.
Ngoài sự chi phối giữa chúng trong quan hệ sở hữu, thông thường công ty mẹ còn có thể chi phối công ty con bằng các phương thức liên kết khác, tuỳ theo dạng mô hình công ty mẹ - công ty con cụ thể. Trong nhiều trường hợp, công ty mẹ nắm khâu then chốt nhất, có công nghệ tiến tiến nhất trong một dây chuyền sản xuất - kinh doanh hoặc cũng có thể uy tín và thương hiệu sản phẩm trên thị trường của công ty me là diéu kiện kinh doanh mà công ty con không thể tách rời để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình. Công ty con Công ty con là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của nó do một công ty khác nắm giữ ở mức chi phối (từ >50% đến 100%). Nhu vậy, dé là một công ty con thì phần lớn hoặc toàn bộ sở hữu vốn của một công ty không thể thuộc về một hoặc nhiều chủ sở hữu có tư cách pháp nhân thuần tuý mà phải thuộc về một doanh nghiệp.
“Mẹ” và “con” đều được nhìn nhận trên cùng một mặt bằng pháp lý là tư cách pháp nhân của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp là công ty con tham gia vào quan hệ công ty mẹ - công ty con này là những đơn vị có tư cách pháp nhân, có thể là các loại hình doanh nghiệp sau đây: 1. Công ty TNHH một thành viên do công ty mẹ là chủ sở hữu duy nhất (nắm 100% vốn điều lệ). Công ty TNHH từ hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần: được hình thành trên cơ sở góp vốn của công ty mẹ với một số tổ chức cá nhân khác được pháp luật cho phép.
Đăng Thu Thuy/Luan văn Thợc sĩ Luộ†/2008 13 3. Công ty liên doanh là công ty do công ty mẹ nắm giữ tỷ lệ vốn góp chi phối hợp tác đầu tư với các tổ chức, cá nhân đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo quy định của pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Về cơ bản, đối với các công ty con là công ty TNHH từ hai thành viên trở lên và công ty liên doanh thì công ty mẹ nắm giữ ở mức trên 50% vốn điều lệ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết, pháp luật có thể quy định sở hữu vốn của công ty mẹ ở công ty con dưới mức 50%.
Nhưng phải từ mức có cổ phần hoặc vốn góp đặc biệt trở lên (gấp đôi cổ đông lớn nhất, thường là trên 30% vốn điều lệ) và kèm theo những điều kiện kinh doanh đặc biệt mà công ty con bi ràng buộc chặt chẽ và không thể tách rời sự chi phối của công ty mẹ. Các điều kiện đó pháp luật quy định hoặc trong điều lệ của công ty mẹ được công ty con chấp thuận (điều đó có thể so sánh với quan hệ giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi - dựa trên một sự đồng tình và phải được pháp luật thừa nhận).