mở đầu, kết kuận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về liên kết đào tạo nghề giữa trƣờng dạy nghề với các đơn vị sử dụng lao động Chƣơng 2: Thực trạng liên kết đào tạo nghề giữa Trƣờng cao đẳng nghề Thƣơng mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng lao động Chƣơng 3: Đề xuất mô hình và các biện pháp liên kết đào tạo nghề giữa Trƣờng cao đẳng nghề Thƣơng mại và Công nghiệp với các đơn vị sử dụng lao động 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NGHỀ GIỮA TRƢỜNG DẠY NGHỀ VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1.Đào tạo Theo nghĩa chung nhất: Đào tạo (training) là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiệp theo những tiêu chuẩn nhất định để đáp ứng yêu cầu của thị trƣờng lao động.Nghề Có nhiều định nghĩa về nghề nhƣ: Theo từ điển tiếng Việt – NXB Đà Nẵng, 2005: “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội”. Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Nghề là một hình thức phân công lao động, đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định. Nghề đƣợc hình thành trên cơ sở phân công lao động xã hội, mỗi nghề có những yêu cầu về kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành tƣơng ứng, nhƣ vậy cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội, sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc thì đồng thời cũng xuất hiện những nghề mới và yêu cầu về kiến thức lý thuyết cũng nhƣ kỹ năng thực hành cũng có sự thay đổi và phát triển nghĩa.
Mỗi nghề khác nhau thì có một mục tiêu đào tạo khác nhau, căn cứ mục tiêu đào tạo, Nhà Nƣớc ban hành bản danh mục nghề đào tạo.Đào tạo nghề Có rất nhiều định nghĩa về đào tạo nghề, có thể nêu một số định nghĩa cụ thể sau: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Theo Tack Soo Chung (1982): Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo phát triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận những công việc đƣợc đáp ứng với những ngƣời lao động và những đối tƣợng sắp trở thành ngƣời lao động. Đào tạo nghề đƣợc thực hiện tại nơi lao động, Trƣờng đào tạo, các trƣờng dạy nghề, các lớp không chính quy nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng cƣờng cơ hội việc làm và cải thiện địa vị cho ngƣời lao động, nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp góp phần phát triển kinh tế - xã hội. - Leconnard Nadler (1984): Đào tạo nghề là để học những điều nhằm cải thiện việc thực hiện những công việc hiện tại. - Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì định nghĩa: Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho ngƣời học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả những nhiệm vụ liên quan đến công việc, nghề nghiệp đƣợc giao.
Khi tiếp cận dƣới góc độ quản lý, các khái niệm trên đều là kinh điển, song chƣa thật đầy đủ vì chƣa đề cập đến nội dung quan trọng nhất, đó là việc đào tạo nhân lực gắn với việc làm. Vì vậy có thể hiểu, đào tạo nghề là quá trình giáo dục, phát triển nhân cách, phát triển có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp và khả năng tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm. Luật dạy nghề 2006 quy định: Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học. Mục tiêu đào tạo nghề là trạng thái phát triển nhân cách đƣợc dự kiến trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đƣợc hiểu là chất lƣợng cần đạt tới đối với ngƣời học sau quá trình đào tạo.Việc làm Theo quan điểm chung trên thế giới thì khái niệm việc làm chỉ đƣợc đề cập đến trong mối quan hệ với lực lƣợng lao động, khi đó việc làm đƣợc chia làm hai loại: Một là việc làm đƣợc trả công (những ngƣời làm thuê, học 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.) và một loại là việc làm không đƣợc trả công nhƣng vẫn tạo ra thu nhập (giới chủ, những ngƣời làm kinh tế hộ gia đình.
Qua quá trình nghiên cứu phân tích tại hội nghị Quốc tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động (ILO – 1993) đã đƣa ra khái niệm việc làm nhƣ sau: Việc làm là hoạt động có ích, không bị pháp luật cấm, có thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật. Những ngƣời có việc làm là những ngƣời làm một công việc gì đó và đƣợc trả công, có lợi nhuận, đƣợc thanh toán bằng hiện vật, hoặc tham gia vào một hoạt động mang tính chất tự tạo ra việc làm vì lợi ích và thu nhập của bản thân hoặc gia đình mà không nhận tiền công hoặc hiện vật. Tùy theo luật pháp của từng quốc gia quy định về việc làm nêu trên có những sửa đổi, bổ xung cho phù hợp nhƣng về cơ bản nó vẫn mang đầy đủ những nội dung mà ILO đã đƣa ra. Theo điều 18 Luật lao động của Việt Nam: Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu, không bị pháp luật ngăn cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm.
Khái niệm này về cơ bản là không có sự khác biệt so với khái niệm về việc làm ILO đã đƣa ra trong hội nghị Quốc tế lần thứ 13. Theo luật lao động, một hoạt động đƣợc coi là việc làm khi đáp ứng đƣợc 2 điều kiện sau: Thứ nhất, đó là các hoạt động không bị pháp luật ngăn cấm. Thứ hai, hoạt động đó phải mang lại thu nhập cho ngƣời lao động hoặc tạo điều kiện cho ngƣời lao động tham gia để tạo thu nhập, hoăc tiết kiệm chi phí cho gia đình. Hoạt động tạo ra thu nhập có thể nhận diện đƣợc dƣới các dạng: Ngƣời lao động làm việc để nhận đƣợc tiền công, tiền lƣơng bằng tiền hoặc bằng hiện vật từ ngƣời sử dụng lao động; tự đem lại thu nhập cho bản thân thông qua hoạt động kinh tế mà bản thân ngƣời lao động làm chủ, tự tiến hành tổ chức và tiến hành các hoạt động đó; hoặc đem lại thu nhập cho hộ gia đình mà bản thân ngƣời lao động thực hiện công việc đó là thành viên của hộ gia đình, do gia 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đình quản lý.Nhƣ vậy một hoạt động đƣợc coi là việc làm hai không chủ yếu đƣợc dựa trên tính hợp pháp và tạo ta thu nhập của hoạt động đó.
Liên kết Theo đại từ điển Tiếng Việt – NXB Văn hóa – Thông tin 1998 (Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên) thuật ngữ “liên kết” đƣợc định nghĩa là: “Kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ nhằm mục đích nào đó”. Khái niệm liên kết phản ánh các mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau giữa các thành phần trong một tổ chức hoặc giữa các tổ chức với nhau nhằm hƣớng đến một mục tiêu chung. Tính hƣớng đích là tiêu điểm, là cơ sở và động lực của các mối liên kết giữa chúng. Sự liên kết giữa các tổ chức theo một mục đích nào đó (lợi ích chung, giả thuyết một vấn đề chung.) tạo nên một sức mạnh mới, khả năng mới mà từ thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ không thể có.
Tùy theo từng loại hình mà có các mối liên kết bên trong hoặc bên ngoài của một tổ chức (nhà trƣờng, doanh nghiệp, trƣờng đại học) trong bối cảnh và môi trƣờng kinh tế nhất định. Nói đến liên kết là nói đến các nội dung sau: - Mục đích, mục tiêu liên kết: Phản ánh lợi ích, mong muốn chung và cụ thể của từng tổ chức thành phần tham gia liên kết nhƣ lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội, lợi ích môi trƣờng phát triển. - Các thành phần, tổ chức liên kết: bao gồm các thành phần, tổ chức độc lập, có tƣ cách pháp nhân thuộc nhiều loại hình, tổ chức kinh tế - xã hội, giáo dục – đào tạo, cơ quan quản lý nhà nƣớc. tham gia với nhũng vai trò vị trí nhát định trong liên kết.
- Các hình thức liên kết: tùy theo mục đích và tính chất liên kết mà có thể theo hình thức thành lập các tổ chức liên doanh, thỏa huận phối hơp thực hiện các dự án nghiên cứu hay phát triển các sản phẩm dịch vụ. Các hợp đồng kinh tế trong hợp tác nghiên cứu, đào tạo và bồi dƣơng nhân lực, nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm mới. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Các nội dung liên kết: tùy thuộc vào mục đích, đối tƣợng và hình thức liên kết mà có các nội dung liên kết khác nhau bao gồm từ các nội dung các hoạt động liên kết: Đầu tƣ, hỗ trợ tài chính, đào tạo và bồi dƣỡng nhân lực, nghiên cứu KH & CN đến các hoạt động sản xuất – kinh doanh với vai trò, vị trí, trách nhiệm tham gia theo thỏa thuận của các bên tham gia liên kết. - Cơ chế liên kết: Là cách thức tổ chức, quản lý và các nguyên tắc vận hành các mối liên kết bảo đảm đạt đƣợc mục tiêu mong muốn và trách nhiệm, quyền, lợi ích của các bên tham gia liên kết.
Trên thực tế có thể phối hợp nhiều cơ chế khác nhau nhƣ cơ chế thị trƣờng (Theo quy luật cung – cầu, giá trị, giá cả.) cơ chế đấu thầu, cơ chế xin – cho; cơ chế công ty mẹ - công ty con. - Sản phẩm liên kết: Là các sản phẩm đƣợc tạo ra của quá trình liên kết nhƣ các sản phẩm hàng hóa – dịch vụ; sản phẩm đào tạo (nhân lực KH & CN); sản phẩm nghiên cứu khoa học – công nghệ (vật liệu mới, thiết bị, quy trình công nghệ mới. - Môi trƣờng và các điều kiện liên kết: là tập hợp các nhân tố bên ngoài (môi trƣờng chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa, các tổ chức khác.) và môi trƣờng bên trong của mối liên kết giữa các đối tác (các quan hệ nội bộ, các điều kiện, đặc tính bên trong của từng đối tác.