CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN MÔ HÌNH DẠY HỌC VỪA ĐÚNG LÚC 1. Tổng quan đề tài Ngày này, sự toàn cầu hóa đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động. Do vậy, giáo dục cần đào tạo con người đáp ứng những đòi hỏi mới này của xã hội. Chương trình giáo dục tổng thể của Bộ Giáo dục cũng đã có những thay đổi cho phù hợp với các yêu cầu này.
Ở đây, ta thấy được sự chuyển đổi từ chương trình giáo dục định hướng nội dung sang định hướng năng lực. Từ đó, chứng tỏ việc trang bị kiến thức cho HS không phải là yếu tố hàng đầu quyết định đến sự thành công của giáo dục, mà quan trọng hơn là trang bị cho HS các năng lực để giải quyết các tình huống trong cuộc sống, cũng như tạo điều kiện để phát triển toàn diện nhân cách của một con người. Cùng với sự thay đổi này, phương pháp dạy học của GV cũng có nhiều thay đổi để đáp ứng được yêu cầu này của xã hội. Dạy học tích cực được áp dụng rộng rãi ở các trường phổ thông trên khắp cả nước nhằm tích cực hóa các hoạt động học tập của HS và việc này dường như trở nên bắt buộc đối với bản thân mỗi GV.
Rất nhiều các mô hình dạy học được áp dụng như: bàn tay nặn bột, dạy học STEM, dạy học theo góc, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học tìm tòi khám phá,… cũng nghiên cứu áp dụng đạt được một số hiệu quả nhất định. Mô hình dạy học vừa đúng lúc (Just in Time Teaching) là một mô hình kết hợp hoạt động ở nhà và trên lớp. Với mô hình dạy học này, HS sẽ phải tìm hiểu các đối tượng kiến thức mới thông qua bộ câu hỏi mà GV xây dựng. Những phản hồi của HS sẽ một tư liệu cho GV để biết rằng HS đang hiểu vấn đề như thế nào và ở mức độ nào để có những điều chỉnh kịp thời tại các tiết học trên lớp [15].
Thông qua quá trình học tập như thế này, HS sẽ hình thành kiến thức dựa trên những kinh nghiệm đã có, sửa chữa những quan niệm sai lầm từ đó hình thành nên tri thức mới. Đồng thời, quá trình này cũng giúp cho HS hình thành một số năng lực cần thiết cho quá trình học tập sau này như năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề. Một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài về mô hình JiTT có thể kể đến như: Novak, G and Patterson, ET (2010), Getting Started with JiTT in Just in Time Teaching: Across the Disciplines, Across the Academy, Sterling, VA: Stylus Publishing. Nghiên cứu chỉ ra rằng mô hình JiTT làm tăng hiệu quả học tập của HS, đặc biệt khi kết hợp với dạy học đồng đội (Peer Instruction).
Trong nghiên cứu này, cũng đưa ra một số cách thức sử dụng mô hình cho một số môn học và những kết quả đạt được. (2014), Just in Time to Flip Your Classroom. The Physics Teacher, 52(1), pp. Áp dụng mô hình JiTT nhưng có điều chỉnh một số bước để trở thành Flip-JiTT 4 Luan van Phan Tấn Tài (2014), Vận dụng mô hình dạy học vừa đúng lúc (Just in time – Teaching) vào dạy học phần Nhiệt – Vật lí 10, Trung Học Phổ Thông, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lí luận của mô hình dạy học JiTT và vận dụng mô hình JiTT vào dạy học phần nhiệt học vật lí – 10 THPT.
Tuy nhiên, kết quả cho thấy mô hình chưa triển khai thành công do một số nguyên nhân như: thói quen học tập trên Web của HS, nội dung bộ câu hỏi khởi động khá cao và xa lạ với HS. Nguyễn Văn Dung (2016), Vận dụng mô hình dạy học vừa đúng lúc vào dạy học phần động lực học chất điểm - chương trình Vật lý đại cương với sự hỗ trợ của website dạy học, luận văn cao học, Đại học Sư phạm TPHCM. Vận dụng mô hình JiTT dạy ở bậc Đại học Công nghiệp thực phẩm và đạt được hiệu quả cao, giúp SV tích cực hơn trong việc tự học. Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi chưa thấy có công trình khoa học nào nghiên cứu nào về mô hình này cho chương Các định luật bảo toàn Vật lí 10 cơ bản.
Do đó chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu về mô hình cho chương này để tổ chức dạy học. Bên cạnh đó, cách xây dựng bộ câu hỏi khởi động sẽ có một chút thay đổi. Nếu các công trình khác, câu hỏi khởi động là phương tiện để GV đặt ra vấn đề cho HS thì trong đề tài này, tác giả mong muốn bộ câu hỏi khởi động còn mang tính định hướng HS giải quyết vấn đề. Trong phạm vi đề tài, tác giả tập trung thực hiện các nội dung: Chuẩn bị những điều kiện ban đầu trước khi thực hiện mô hình (bao gồm: nghiên cứu hệ thống kiến thức và xem xét chuẩn kiến thức kĩ năng của các bài trong chương Các định luật bảo toàn, lựa chọn công cụ sử dụng cho mô hình dạy học vừa đúng lúc,…); Xây dựng bộ câu hỏi JiTT cho từng bài trong chương Các định luật bảo toàn (dựa vào chuẩn kiến thức kĩ năng của bộ giáo dục và thang phân loại Bloom); Xem xét đánh giá câu trả lời của học sinh (dựa theo thang phân loại Bloom kết hợp với khung đánh giá câu trả lời JiTT của Kathy Marrs [16]).
Sau khi xây dựng xong các bước trên thì tác giả sẽ xây dựng giáo án bài dạy để thực nghiệm đề tài tại trường THPT để đánh giá định tính hiệu quả mà mô hình đạt được. Dạy học tích cực 1. Khái niệm phương pháp dạy học tích cực Phương pháp dạy học tích cực là thuật ngữ rút gọn, để chỉ các phương pháp nhằm đề cao vai trò tự giác, tích cực, độc lập nhận thức của người học dưới vai trò tổ chức, định hướng của người dạy [11]. Vậy so sánh với cách dạy thụ động, phương pháp dạy học tích cực làm thay đổi vai trò của người dạy và người học.
Ngoài ra, theo cách dạy trước đây, kiến thức là điều quan trọng thì bây giờ việc phát triển toàn diện các phẩm chất, năng lực của HS là điều cốt yếu. Tính tích cực Để làm rõ lí do tại sao ngày nay nhà giáo dục cần phải áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong hoạt động dạy học ta cần phải phân tích rõ khái niệm tính tích cực. Tích cực là một phẩm chất chỉ duy nhất có ở con người trong đời sống xã hội [11]. Con người không thụ động tiêu thụ các sản phẩm mà còn biết cách làm ra các sản phẩm phục vụ cho đời sống.
Từ việc tự tạo ra các sản phẩm về vật chất và tinh thần, con người bộc lộ được những năng lực sáng tạo và tạo dựng nên một xã hội loài người phong phú, đa dạng. Việc hình thành và phát triển tính tích cực này đó chính là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục [11]. Thông qua nhiệm vụ này, giáo dục sẽ đào tạo nên những con người năng động, sáng tạo, chủ động, thích nghi tốt với mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống và công việc làm cơ sở để phát triển xã hội. Tính tích cực trong học tập Tính tích cực trong học tập về bản chất là tính tích cực nhận thức, sự mong muốn hiểu biết và có khát vọng chiếm lĩnh tri thức về thế giới khách quan [11].
Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan đến động cơ học tập. Động cơ học tập đúng đắn sẽ tạo nên hứng thú. Hứng thú là cơ sở, tiền đề của tính tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực.
Tính tích cực tạo ra nếp tư duy độc lập trong trong nhận thức. Suy nghĩ độc lập là nguồn gốc của sự sáng tạo[11]. Biểu hiện của tính tính tích cực trong hoạt động học tập có thể kể đến như: tích cực phát biểu ý kiến; tham gia tranh luận cho một vấn đề đặt ra; đặt ra các câu hỏi để làm rõ vấn đề; kiên trì tới cùng để tìm ra câu trả lời xác đáng cho vấn đề đang mắc phải; tìm tòi phương pháp làm khác hiệu quả hơn,… Kết luận: Qua việc phân tích ta thấy rằng, các phương pháp dạy học tích cực phù hợp với mục tiêu phát triển giáo dục của nước ta hiện nay. Do đó, yêu cầu đặt ra của giáo dục Việt Nam hiện nay cần phải vận dụng thích hợp các mô hình theo phương pháp dạy học tích cực trong nhà trường phổ thông.
Song song đó, ta cần phải chuyển đổi kiểm tra đánh giá từ kiến thức, kĩ năng sang kiểm tra đánh giá năng lực của HS và đa dạng hóa các hình thức đánh giá để tạo điều kiện thuận lợi cho các mô hình này mang lại hiệu quả. Một số đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực [11] Hiện nay có rất nhiều mô hình dạy học tích cực nhưng tất cả các chúng đều có những đặc trưng cơ bản để nhận biết. Đầu tiên, các hoạt động diễn ra trong các mô hình dạy học này đều nhằm vào đối tượng chính là HS. GV không còn “độc quyền” trong toàn bộ tiết học mà vai trò 6 Luan van của người GV lúc này là một hướng dẫn viên, người tổ chức các hoạt động để đặt HS vào các tính huống có vấn đề.
Sau đó, chính HS mới là người tìm ra cách để giải quyết vấn đề đã đặt ra và từ đó hình thành nên tri thức cùng với việc phát triển các năng lực trong quá trình tìm tòi ấy. Dạy cách học – đó là mục tiêu cuối cùng mà tất cả các nhà giáo dục đều mong muốn khi HS rời khỏi nhà trường. Trong thời đại ngày nay, phương pháp “nhồi nhét” không mang lại hiệu quả như chúng ta tưởng tượng vì có lượng thông tin mà HS cần đã hiện diện sẵn trên các trang Internet, sách, báo. Điều mà GV cần dạy đó chính là dạy cho HS cách xem xét, chọn lọc thông tin; tạo động lực, hứng thú học tập và rèn ý chí tự học; khai thác nội lực của mỗi cá nhân và phát huy chúng để được mục tiêu của bản thân.
Tăng cường học tập cá thể và phối hợp với học tập hợp tác. Việc dạy học theo các phương pháp dạy học tích cực cần sự nỗ lực rất nhiều ở mỗi học sinh. Tuy nhiên, đối với một lớp học có sự phân hóa cao việc làm này càng trở nên khó khăn ảnh hướng đến tiến độ, hiệu quả dạy học.