Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số 9 22 90 20) của nghiên cứu sinh Tống Thị Hường với đề tài "Mạch lạc trong văn bản nghị luận tiếng Việt" được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Văn Tình (năm 2019). Công trình tiếp cận vấn đề tổ chức ngữ nghĩa và cấu trúc của văn bản nghị luận từ góc độ ngôn ngữ học văn bản và phân tích diễn ngôn.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong lí thuyết ngôn ngữ học văn bản và ngữ pháp chức năng, liên kết (cohesion) và mạch lạc (coherence) là hai đặc trưng cốt lõi xác định bản thể của văn bản. Mạch lạc giữ vai trò quyết định "chất văn bản", chi phối sự thống nhất về nghĩa và chức năng giao tiếp. Văn bản nghị luận là loại hình văn bản dùng để trình bày, bình luận, đánh giá các vấn đề chính trị - xã hội hoặc văn học theo một quan điểm nhất định, nhằm thực hiện chức năng thuyết phục và định hướng người tiếp nhận. Loại văn bản này có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội cũng như trong chương trình giáo dục phổ thông từ lớp 7 đến lớp 12.
Mặc dù mạch lạc là yếu tố bắt buộc của văn bản nghị luận, việc nghiên cứu mạch lạc trong loại thể này tại Việt Nam trước thời điểm luận án triển khai chủ yếu dừng lại ở phạm vi khảo sát hẹp (phân tích 2 đến 3 văn bản cụ thể hoặc khảo cứu tác phẩm của một tác giả riêng lẻ trong các luận văn thạc sĩ). Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là chưa có công trình nào khảo sát hệ thống, chuyên sâu và toàn diện về các biểu hiện đặc trưng của mạch lạc trên một dung lượng ngữ liệu văn bản nghị luận tiếng Việt đủ lớn và đa dạng. Đề tài được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này, làm rõ các phương diện thể hiện mạch lạc gắn liền với đặc thù thể loại.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là thông qua việc khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích và đánh giá các biểu hiện của mạch lạc trong văn bản nghị luận tiếng Việt, làm sáng tỏ các biểu hiện nổi trội gắn với đặc trưng thể loại; từ đó khẳng định vai trò của mạch lạc trong quá trình tiếp nhận và tạo lập văn bản nghị luận.
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa một cách khái quát những vấn đề lí thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu (văn bản, diễn ngôn, mạch lạc, liên kết, kết cấu và lập luận).
- Khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích, đánh giá biểu hiện của mạch lạc trong sự thống nhất đề tài - chủ đề ở phương diện kết cấu và các phép liên kết ở văn bản nghị luận tiếng Việt.
- Khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích, đánh giá biểu hiện của mạch lạc trong quan hệ lập luận ở các phương diện: kiểu lập luận, đặc điểm các thành phần lập luận và tính đa thanh trong lập luận ở văn bản nghị luận tiếng Việt.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mạch lạc và các biểu hiện của mạch lạc trong văn bản nghị luận tiếng Việt.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào hai biểu hiện mang tính đại diện và nổi trội nhất của mạch lạc trong văn bản nghị luận: (1) Mạch lạc trong sự thống nhất đề tài - chủ đề; (2) Mạch lạc trong quan hệ lập luận.
- Phạm vi ngữ liệu: Khảo sát trên 326 văn bản nghị luận tiếng Việt hoàn chỉnh, được tuyển chọn từ các nguồn tư liệu tiêu biểu thuộc các giai đoạn văn học trung đại, hiện đại và đương đại.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tình hình nghiên cứu mạch lạc trên thế giới
Mạch lạc bắt đầu được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu sâu từ giữa thế kỉ XX với nhiều cách tiếp cận khác nhau:
- M.A.K. Halliday và R. Hasan (1976) trong công trình Cohesion in English đã đặt nền móng cho việc phân biệt liên kết và mạch lạc. Các tác giả quan niệm mạch lạc là tập hợp các quan hệ có ý nghĩa phân biệt văn bản với phi văn bản, chỉ ra hai điều kiện để văn bản mạch lạc là sự phù hợp ngữ cảnh và sự hiện diện của các liên kết hình thức.
- T.A. van Dijk (1977) trong Text and Context xem mạch lạc là thuộc tính ngữ nghĩa của diễn ngôn dựa trên sự diễn giải mối tương quan giữa các câu, đồng thời đề xuất khái niệm "cấu trúc vĩ mô" (macrostructure) - cấu trúc ngữ nghĩa tổng thể chi phối tính mạch lạc toàn cục của văn bản.
- I.R. Gal'perin (1981, bản dịch tiếng Việt năm 1987) trong Văn bản với tư cách là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học khẳng định mạch lạc là hình thức liên kết riêng biệt bảo đảm tính liên tục về không gian, thời gian và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thông báo, sự kiện.
- Gillian Brown và George Yule (1983, bản dịch tiếng Việt năm 2002) trong Phân tích diễn ngôn nghiên cứu mạch lạc dưới góc độ giải thuyết diễn ngôn, xem mạch lạc là nỗ lực của người tiếp nhận nhằm đạt đến ý định giao tiếp của người tạo lập thông qua ba bình diện: giải thuật chức năng giao tiếp, vận dụng kiến thức văn hóa xã hội và xác định luận suy.
- D. Nunan (1993, bản dịch tiếng Việt năm 1997) trong Dẫn nhập phân tích diễn ngôn định nghĩa mạch lạc là mức độ mà ở đó các phát ngôn được tiếp nhận là có sự "mắc vào nhau" trong một ngữ cảnh cụ thể, phân biệt văn bản mạch lạc với chuỗi câu ngẫu nhiên.
- Các nhà nghiên cứu khác như Green (1989) nhấn mạnh nguyên tắc cộng tác của Grice trong việc nhận diện mạch lạc; K. Wales (1994) xem mạch lạc là đặc tính ban đầu quyết định văn bản đích thực.
Tình hình nghiên cứu mạch lạc tại Việt Nam
Tại Việt Nam, nghiên cứu mạch lạc phát triển từ những năm 1980 qua các công trình tiêu biểu:
- Trần Ngọc Thêm (1985) trong Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt nghiên cứu liên kết nội dung (gồm liên kết chủ đề và liên kết logic), đặt nền tảng cho việc nhận diện mạch lạc qua phương diện ngữ nghĩa.
- Đỗ Hữu Châu (1996, 2007) tiếp cận mạch lạc thông qua liên kết nội dung, cấu trúc văn bản và hành động ngôn từ.
- Diệp Quang Ban (1998, 1999, 2003, 2009) là tác giả nghiên cứu hệ thống nhất về mạch lạc tại Việt Nam. Ông định nghĩa mạch lạc là sự nối kết hợp lí về mặt nghĩa và mặt chức năng trong quá trình triển khai văn bản, đồng thời khái quát 8 biểu hiện cụ thể của mạch lạc trong diễn ngôn.
- Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2000, 2008, 2016), Nguyễn Thị Việt Thanh (2001) và Nguyễn Hòa (2002) tiếp tục bổ sung khung lí thuyết về mạch lạc trong liên kết, mạch lạc cấu trúc và tính quan yếu của diễn ngôn.
Ở cấp độ luận văn, luận án, lí thuyết mạch lạc đã được ứng dụng vào nhiều thể loại văn bản chuyên biệt:
- Trần Thị Vân Anh: Mạch lạc trong tác phẩm nghệ thuật (Truyện Kiều).
- Nguyễn Thị Hường (2010): Mạch lạc trong văn bản hành chính (báo cáo và tờ trình).
- Phan Thị Ai / Nguyễn Thị Ai: Mạch lạc trong bài làm văn của học sinh phổ thông.
- Nguyễn Hương Giang (2017): Mạch lạc trong văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt.
- Dương Thị Bích Hạnh (2016): Tiếp cận văn bản chính luận của Hồ Chí Minh từ phân tích diễn ngôn.
- Các luận văn thạc sĩ của Trương Công Nghị (2006), Nguyễn Mai Lan (2009), Nguyễn Anh Tuấn (2010), Phạm Thị Huệ (2011), Vũ Như Nguyệt (2011) khảo sát mạch lạc theo quan hệ lập luận trên một số văn bản chính luận riêng biệt.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Kế thừa các thành tựu lí thuyết trên, luận án của Tống Thị Hường xác lập vị trí nghiên cứu bằng việc chuyển từ việc khảo sát các ngữ liệu đơn lẻ sang khảo sát diện rộng trên 326 văn bản nghị luận. Luận án tinh giản và tái cấu trúc hệ thống các biểu hiện mạch lạc của Diệp Quang Ban, tập trung xử lí trọn vẹn hai biểu hiện cốt lõi gắn liền với bản chất của văn bản nghị luận: sự thống nhất đề tài - chủ đề (thông qua kết cấu và hệ thống phép liên kết) và quan hệ lập luận (thông qua kiểu lập luận, thành phần lập luận, phương tiện chỉ dẫn và hiện tượng đa thanh).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lí thuyết và khái niệm công cụ
- Khái niệm Văn bản và Diễn ngôn: Luận án định nghĩa: "Văn bản là sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ được ghi lại bằng chữ viết, có cấu trúc hoàn chỉnh và truyền tải một nội dung ngữ nghĩa trọn vẹn". Luận án phân biệt văn bản (mặt từ ngữ - sản phẩm tĩnh) với diễn ngôn (ngôn ngữ hành chức gắn với ngữ cảnh - quá trình động), đồng thời sử dụng thuật ngữ "văn bản" theo thói quen định danh tại Việt Nam để nghiên cứu các sự kiện giao tiếp bằng chữ viết.
- Sáu đặc trưng của văn bản (theo Diệp Quang Ban):
- Mục đích sử dụng văn bản.
- Yếu tố nội dung (tính thống nhất đề tài - chủ đề).
- Yếu tố cấu trúc.
- Mạch lạc và liên kết (mạch lạc là sợi dây nối nghĩa bên trong, liên kết là phương tiện hình thức thể hiện).
- Yếu tố chỉ lượng.
- Yếu tố định biên.
- Mạch lạc và sự điều chỉnh các biểu hiện mạch lạc: Luận án tiếp thu định nghĩa của Diệp Quang Ban về mạch lạc: "Mạch lạc là sự nối kết có tính chất hợp lí về mặt nghĩa và về mặt chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản [...] nhằm tạo ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là sự kiện liên kết câu với câu". Từ 8 biểu hiện do Diệp Quang Ban đề xuất, tác giả đã tinh gọn thành 6 biểu hiện và chọn lọc 2 biểu hiện trọng tâm phù hợp nhất với thể loại nghị luận:
- Mạch lạc trong sự thống nhất đề tài - chủ đề.
- Mạch lạc trong quan hệ lập luận.
- Kết cấu văn bản nghị luận: Được xem xét qua hai dạng mô hình tổ chức logic:
- Kết cấu chuỗi: Triển khai tuyến tính nối tiếp qua các thủ pháp liệt kê, móc xích, hỏi đáp, lập luận ba đoạn.
- Kết cấu song song: Triển khai đối chiếu song hành qua các thủ pháp song hành, tương phản, sóng đôi.
- Lý thuyết lập luận trong văn bản nghị luận: Bao gồm cấu trúc ba thành phần: luận cứ ($p, q$ - gồm lí lẽ và dẫn chứng), kết luận/luận đề ($r, R$), và quan hệ lập luận. Phân loại lập luận theo độ phức tạp (lập luận đơn, lập luận phức) và theo hướng lập luận (diễn dịch, quy nạp, phối hợp diễn dịch - quy nạp). Đồng thời, luận án khảo sát các yếu tố chỉ dẫn lập luận (kết tử, tác tử, biện pháp tu từ, từ ngữ xưng hô) và hiện tượng đa thanh (polyphony) gồm đa thanh đồng hướng và đa thanh nghịch hướng.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phương pháp chủ đạo nhằm miêu tả, phân tích và giải thích các biểu hiện mạch lạc trong mối quan hệ giữa bề mặt ngôn ngữ và mục đích giao tiếp của văn bản nghị luận.
- Phương pháp miêu tả: Sử dụng để miêu tả các mô hình cấu trúc văn bản, các phép liên kết, mô hình lập luận và các yếu tố ngôn ngữ thực tế trong văn bản.
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Vận dụng để phân tích nội dung ngữ nghĩa của câu, mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận trong văn bản, quan hệ giữa luận cứ và kết luận.
- Các thủ pháp hỗ trợ:
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Định lượng tần suất xuất hiện của các kiểu kết cấu, các phép liên kết, các kiểu lập luận.
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: So sánh việc sử dụng kết cấu, phép liên kết giữa văn bản nghị luận với các loại thể văn bản khác.
- Thủ pháp phân tích, tổng hợp: Khái quát hóa các quy luật tổ chức mạch lạc từ số liệu ngữ liệu khảo sát.
Nguồn tư liệu và ngữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu khảo sát gồm 326 văn bản nghị luận tiếng Việt hoàn chỉnh, được thu thập từ 5 nguồn tài liệu:
| STT |
Nguồn ngữ liệu |
Đặc điểm ngữ liệu |
| 1 |
Sách giáo khoa Ngữ văn từ lớp 7 đến lớp 12 (Tập 1 và Tập 2, Nxb Giáo dục, 2008) |
Các văn bản nghị luận mẫu mực, tiêu biểu từ văn học trung đại đến hiện đại đã được tuyển chọn sư phạm. |
| 2 |
Tập nghiên cứu và bình luận văn học chọn lọc (Bộ 6 tập, Đỗ Quang Lưu tuyển chọn, Nxb Hà Nội, 2000) |
Các văn bản nghị luận văn học của các nhà phê bình tiêu biểu: Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Hoành Khung, Phạm Văn Đồng,... |
| 3 |
Tuyển tập văn chính luận Hồ Chí Minh (Lữ Huy Nguyên tuyển chọn, Nxb Giáo dục, 1997) |
Các tác phẩm chính luận mẫu mực của Chủ tịch Hồ Chí Minh. |
| 4 |
Văn học Việt Nam thế kỉ XX (Văn chính luận - Quyển V) (Mai Quốc Liên - Nguyễn Văn Lưu chủ biên, Nxb Văn học, 2003) |
Văn chính luận của các tác giả đầu thế kỉ XX: Phan Kế Bính, Nguyễn An Ninh, Phan Khôi, Phạm Quỳnh,... |
| 5 |
Xã luận báo Nhân dân (Các số báo phát hành từ ngày 18/11/2013 đến ngày 13/6/2017) |
Văn bản nghị luận xã hội - chính trị đương đại mang tính thời sự. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí thuyết
Chương 1 thực hiện việc hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về mạch lạc, phân tích diễn ngôn và văn bản nghị luận ở trong và ngoài nước. Tác giả làm rõ ranh giới học thuật giữa liên kết (bề mặt từ ngữ, hình thức) và mạch lạc (chiều sâu ngữ nghĩa, chức năng giao tiếp), khẳng định liên kết chỉ là phương tiện biểu hiện còn mạch lạc mới là yếu tố quyết định tạo nên tính trọn vẹn của văn bản. Chương này thiết lập khung lí thuyết nền tảng gồm: quan niệm về văn bản và 6 đặc trưng văn bản; mối quan hệ giữa đề tài - chủ đề và kết cấu; các dạng kết cấu chuỗi và kết cấu song song; lí thuyết lập luận với các thành phần, cấu trúc mô hình lập luận đơn/phức, các hướng lập luận và các phương tiện ngôn ngữ chỉ dẫn lập luận.
Chương 2: Mạch lạc trong sự thống nhất đề tài - chủ đề ở văn bản nghị luận tiếng Việt
Chương 2 tập trung phân tích mạch lạc trong văn bản nghị luận ở phương diện bảo đảm tính thống nhất của đề tài và chủ đề thông qua hai công cụ chính:
- Mạch lạc thể hiện qua kết cấu văn bản:
- Khảo sát việc tổ chức bố cục rõ ràng, hợp lí của văn bản nghị luận (gồm các phần: tiêu đề/đầu đề, phần mở đầu nêu luận đề, phần triển khai các luận điểm bộ phận, phần kết luận khẳng định quan điểm).
- Phân loại và khảo sát tần suất các kiểu quan hệ kết cấu ở cấp độ toàn văn bản: kết cấu chuỗi (sử dụng các thủ pháp liệt kê thông thường, liệt kê tích lũy, móc xích, hỏi đáp, tam đoạn luận) và kết cấu song song (thủ pháp song hành diễn dịch/quy nạp, tương phản, sóng đôi).
- Mạch lạc thể hiện qua các phép liên kết đề tài - chủ đề:
- Nhóm phép liên kết duy trì đề tài - chủ đề: Khảo sát và thống kê tần suất xuất hiện của phép lặp từ vựng, phép thế (thế đại từ, thế đồng nghĩa), phép tỉnh lược (tỉnh lược chủ ngữ, vị ngữ).
- Nhóm phép liên kết phát triển đề tài - chủ đề: Khảo sát và thống kê tần suất của phép phối hợp từ ngữ (liên tưởng đồng loại, liên tưởng định vị, liên tưởng quan hệ bộ phận - toàn thể), phép quy chiếu (quy chiếu ngôi, quy chiếu chỉ định, quy chiếu so sánh), phép dùng từ ngữ đồng nghĩa và trái nghĩa.
- Phân tích trường hợp cụ thể: Luận án xây dựng các mô hình kết cấu và phân tích chi tiết tính mạch lạc qua các văn bản tiêu biểu:
- Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh).
- Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc (Phạm Văn Đồng).
- Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới (Vũ Khoan).
Hệ thống bảng biểu và mô hình khảo sát trong Chương 2 bao gồm:
- Bảng 2.1: Thống kê kiểu kết cấu văn bản nghị luận.
- Bảng 2.2: Thống kê về kiểu quan hệ kết cấu ở cấp độ văn bản trong văn bản nghị luận.
- Bảng 2.3: Thống kê về tần suất xuất hiện của các phép liên kết trong văn bản nghị luận.
- Bảng 2.4: Thống kê tần suất xuất hiện phép lặp từ vựng trong văn bản nghị luận tiếng Việt.
- Bảng 2.5: Thống kê tần suất xuất hiện phép thế trong văn bản nghị luận tiếng Việt.
- Bảng 2.6: Thống kê tần suất xuất hiện phép tỉnh lược trong văn bản nghị luận tiếng Việt.
- Bảng 2.7: Thống kê tần suất xuất hiện phép dùng từ ngữ đồng nghĩa trong văn bản nghị luận tiếng Việt.
- Bảng 2.8: Thống kê tần suất xuất hiện phép quy chiếu trong văn bản nghị luận tiếng Việt.
- Bảng 2.9: Thống kê tần suất xuất hiện phép phối hợp từ ngữ trong văn bản nghị luận tiếng Việt.
- Bảng 2.10: Thống kê tần suất xuất hiện phép dùng từ ngữ trái nghĩa trong văn bản nghị luận tiếng Việt.
- Mô hình 2.1 đến 2.4: Các mô hình hóa kết cấu văn bản nghị luận tổng quát và mô hình kết cấu các tác phẩm cụ thể.
Chương 3: Mạch lạc trong quan hệ lập luận ở văn bản nghị luận tiếng Việt
Chương 3 đi sâu vào bản chất của văn bản nghị luận là tính lập luận, chỉ ra rằng mạch lạc chính là sự tổ chức chặt chẽ của các quan hệ lập luận trên các bình diện:
- Sử dụng kiểu lập luận phù hợp:
- Khảo sát lập luận theo logic hình thức của luận cứ và kết luận.
- Phân tích lập luận tường minh và lập luận hàm ẩn trong diễn ngôn nghị luận.
- Khảo sát các mô hình lập luận phức: dạng chuỗi nối tiếp ($p_1, q_1 \to r_1 \to r_2 \to \dots \to R$) và dạng phân nhánh quy tụ ($[p_1, q_1 \to r_1], [p_2, q_2 \to r_2] \to R$).
- Thống kê tần suất các kiểu lập luận diễn dịch, quy nạp và phối hợp diễn dịch - quy nạp.
- Đặc điểm các thành phần lập luận:
- Đặc điểm của luận cứ: Phân tích tính chính xác, tính xác thực và tính định hướng của lí lẽ và dẫn chứng; quan hệ đồng hướng và nghịch hướng giữa các luận cứ đối với kết luận.
- Đặc điểm của kết luận: Khảo sát vị trí và tính chất của kết luận (luận đề mở đầu và kết luận tổng kết văn bản).
- Các yếu tố ngôn ngữ có giá trị lập luận:
- Vai trò định hướng của các kết tử lập luận (kết tử đồng hướng như và, hơn nữa, đồng thời; kết tử nghịch hướng như nhưng, tuy nhiên, song).
- Một số biện pháp tu từ có giá trị lập luận (so sánh, điệp từ/điệp ngữ, câu hỏi tu từ).
- Hệ thống từ ngữ xưng hô và thái độ của chủ thể lập luận.
- Hiện tượng đa thanh trong lập luận (Polyphony):
- Hiện tượng đa thanh trong lập luận đồng hướng (mượn lời, trích dẫn tiếng nói của các tác giả khác để củng cố luận điểm).
- Hiện tượng đa thanh trong lập luận nghịch hướng (dẫn lời đối thoại, bác bỏ ý kiến đối lập để khẳng định kết luận của người viết).
- Mô hình cấu trúc lập luận tiêu biểu: Luận án xây dựng mô hình cấu trúc lập luận chi tiết cho văn bản Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc của Phạm Văn Đồng.
Hệ thống bảng biểu khảo sát trong Chương 3 bao gồm:
- Bảng 3.1: Thống kê về tần suất xuất hiện kiểu lập luận trong văn bản nghị luận tiếng Việt.
- Mô hình 3.1: Mô hình cấu trúc lập luận của văn bản Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về phương diện lí luận
- Vận dụng lí thuyết mạch lạc và phân tích diễn ngôn vào việc khảo sát thể loại văn bản nghị luận tiếng Việt một cách có hệ thống, góp phần khẳng định vai trò cốt lõi của mạch lạc trong việc tạo nên tính chỉnh thể của văn bản.
- Góp phần làm rõ mối quan hệ tương tác giữa liên kết hình thức và mạch lạc ngữ nghĩa - chức năng; minh chứng rằng liên kết là phương tiện biểu hiện bề mặt giúp hiện thực hóa và làm tường minh tính mạch lạc bên trong văn bản nghị luận.
- Tinh chỉnh và cụ thể hóa khung phân tích mạch lạc trong văn bản nghị luận thành hai trục nghiên cứu chính: trục thống nhất đề tài - chủ đề (thông qua kết cấu và các phép liên kết) và trục quan hệ lập luận (thông qua kiểu lập luận, thành phần lập luận, yếu tố chỉ dẫn và hiện tượng đa thanh).
Đóng góp về phương diện thực tiễn
- Luận án cung cấp bộ số liệu thống kê thực chứng toàn diện trên 326 văn bản nghị luận tiếng Việt về tần suất xuất hiện của các kiểu kết cấu, các phép liên kết từ vựng - ngữ pháp và các kiểu cấu trúc lập luận.
- Chỉ ra các đặc trưng nổi bật của văn bản nghị luận tiếng Việt: ưu tiên sử dụng các phép liên kết mang tính biểu cảm và đánh giá cao (như quy chiếu ngôi, quy chiếu so sánh, từ ngữ đồng nghĩa/trái nghĩa), kết hợp linh hoạt giữa lập luận logic và hiện tượng đa thanh nhằm gia tăng sức thuyết phục.
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trực tiếp cho công tác giảng dạy, phân tích và hướng dẫn tạo lập văn bản nghị luận trong nhà trường phổ thông (môn Ngữ văn từ lớp 7 đến lớp 12) cũng như ở bậc đại học, giúp giáo viên và học sinh nắm vững các công cụ tổ chức bài văn nghị luận mạch lạc, chặt chẽ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu vào hai biểu hiện nổi trội nhất của mạch lạc trong văn bản nghị luận là sự thống nhất đề tài - chủ đề và quan hệ lập luận. Do dung lượng và đặc thù thể loại, công trình không đi sâu khảo sát các biểu hiện mạch lạc vi mô ở cấp độ nội bộ câu (mối quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu, quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng) cũng như các biểu hiện ít đặc trưng cho văn bản nghị luận như mạch lạc trong quan hệ hành động nói và quan hệ ngoại chiếu.
- Ngữ liệu khảo sát tập trung chủ yếu vào văn bản nghị luận xã hội, chính luận và nghị luận văn học tiêu biểu trong nhà trường và báo chí chính thống, chưa bao quát toàn bộ các tiểu loại nghị luận chuyên ngành khác (như nghị luận pháp lí, nghị luận triết học thuần túy).
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu mạch lạc sang các thể tài nghị luận chuyên sâu hoặc các dạng thức nghị luận đa phương thức (multimodal discourse) đương đại.
- Ứng dụng kết quả phân tích mạch lạc và lập luận vào việc xây dựng các tiêu chí đánh giá tự động hoặc công cụ hỗ trợ kiểm tra tính mạch lạc trong bài viết của người học tiếng Việt.
Giá trị tham khảo
Luận án là nguồn tư liệu học thuật có giá trị ứng dụng cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học, Phân tích diễn ngôn: Tham khảo khung lí thuyết tiếp cận mạch lạc, phương pháp phân tích diễn ngôn và quy trình kết hợp định tính - định lượng trên ngữ liệu văn bản tiếng Việt.
- Giảng viên, giáo viên Ngữ văn tại các trường đại học, THPT và THCS: Sử dụng Chương 2 và Chương 3 như tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy các bài học về liên kết văn bản, phương pháp lập luận, phân tích tác phẩm chính luận mẫu mực (Tuyên ngôn độc lập, các bài phê bình của Hoài Thanh, Phạm Văn Đồng,...).
- Học sinh, sinh viên: Nắm bắt quy tắc xây dựng kết cấu chuỗi/song song, cách triển khai luận cứ đồng hướng/nghịch hướng và sử dụng kết tử lập luận để tạo lập các bài viết nghị luận đạt hiệu quả thuyết phục cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tác giả luận án lựa chọn nghiên cứu 2 trong số các biểu hiện của mạch lạc thay vì toàn bộ 8 biểu hiện của Diệp Quang Ban?
Theo phân tích của tác giả, 8 biểu hiện mạch lạc của Diệp Quang Ban có sự chồng chéo nhất định. Đối với thể loại văn bản nghị luận, hai biểu hiện mang tính bản chất và nổi trội nhất là: (1) Tính thống nhất đề tài - chủ đề (quy định tính định hướng toàn cục của văn bản) và (2) Quan hệ lập luận (quy định chức năng thuyết phục cốt lõi của thể loại). Các biểu hiện khác như quan hệ từ ngữ nội bộ câu chỉ phù hợp với nghiên cứu vi mô số lượng ít câu; còn quan hệ hành động nói đặc trưng cho hội thoại nghệ thuật, quan hệ ngoại chiếu đặc trưng cho văn bản hành chính nên ít nổi bật trong văn bản nghị luận.
2. Nguồn ngữ liệu 326 văn bản nghị luận của luận án được chọn lọc dựa trên những tiêu chí nào?
326 văn bản nghị luận được tuyển chọn nhằm bảo đảm tính đại diện, chọn lọc và độ tin cậy, bao gồm 3 nhóm nguồn chính:
- Nhóm văn bản chuẩn mực giáo khoa: Sách giáo khoa Ngữ văn từ lớp 7 đến lớp 12 (Nxb Giáo dục, 2008).
- Nhóm văn chính luận tiêu biểu: Tuyển tập văn chính luận Hồ Chí Minh (1997), Văn học Việt Nam thế kỉ XX - Quyển V (2003) và Xã luận báo Nhân dân (giai đoạn 2013 - 2017).
- Nhóm nghị luận văn học mẫu mực: Tập nghiên cứu và bình luận văn học chọn lọc bộ 6 tập do Đỗ Quang Lưu tuyển chọn (2000) với các bài viết của Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đình Thi,...
3. Sự thống nhất đề tài - chủ đề trong văn bản nghị luận được duy trì và phát triển bằng những phép liên kết cụ thể nào?
Theo kết quả khảo sát của luận án:
- Duy trì đề tài - chủ đề: Được thực hiện thông qua phép lặp từ vựng, phép thế (thế đại từ, thế đồng nghĩa) và phép tỉnh lược.
- Phát triển đề tài - chủ đề: Được thực hiện thông qua phép phối hợp từ ngữ (liên tưởng đồng loại, liên tưởng định vị, quan hệ bộ phận - toàn thể), phép quy chiếu (ngôi, chỉ định, so sánh) và phép dùng từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa.
4. Hiện tượng đa thanh (polyphony) trong văn bản nghị luận thể hiện mạch lạc qua những dạng thức nào?
Luận án chỉ ra hiện tượng đa thanh trong lập luận thể hiện qua hai dạng:
- Đa thanh đồng hướng: Người viết đưa vào văn bản tiếng nói, nhận định của các tác giả khác có cùng quan điểm nhằm gia tăng sức nặng và độ tin cậy cho luận cứ của mình.
- Đa thanh nghịch hướng: Người viết trích dẫn hoặc giả định các quan điểm đối lập để phân tích, phản bác, từ đó làm nổi bật và khẳng định tính đúng đắn của kết luận chính.
Kết luận
Luận án "Mạch lạc trong văn bản nghị luận tiếng Việt" của Tống Thị Hường là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học, giải quyết trọn vẹn vấn đề tổ chức mạch lạc trong thể loại văn bản nghị luận trên cơ sở lí thuyết phân tích diễn ngôn. Dựa trên việc khảo sát thực chứng 326 văn bản hoàn chỉnh, luận án đã làm rõ cơ chế vận hành của mạch lạc trên hai phương diện cốt lõi: bảo đảm sự thống nhất đề tài - chủ đề qua kết cấu và phép liên kết, cùng việc thiết lập hệ thống quan hệ lập luận logic và giàu sức thuyết phục. Công trình vừa có ý nghĩa lí luận trong việc cụ thể hóa lí thuyết ngữ pháp văn bản tiếng Việt, vừa có giá trị thực tiễn cao đối với hoạt động giảng dạy và tạo lập văn bản nghị luận trong nhà trường.