Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu “Đặc điểm liên kết và mạch lạc trong văn bản khoa học (qua các bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn trên Tạp chí Khoa học - ĐHQGHN)” của tác giả Nguyễn Thị Thuận được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Chí Hòa, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam (mã số: 62 22 01 02), bảo vệ năm 2019.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, lý thuyết ngôn ngữ học văn bản tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu về liên kết và mạch lạc trong các phong cách văn bản nghệ thuật, báo chí, chính luận và hành chính. Tuy nhiên, mảng văn bản khoa học tiếng Việt—đặc biệt là bài báo khoa học thuộc khối ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV)—vẫn chưa được khảo sát một cách hệ thống và toàn diện trên cả hai phương diện liên kết hình thức và mạch lạc ngữ nghĩa. Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển và xu thế hội nhập quốc tế đòi hỏi các công bố khoa học phải đạt chuẩn mực về kết cấu và văn phong, thực tế khảo sát các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học - ĐHQGHN cho thấy vẫn còn tồn tại những trường hợp chưa đáp ứng đúng quy chuẩn về cấu trúc và tính liên kết, mạch lạc. Do đó, việc xác lập cơ sở thực nghiệm về đặc điểm liên kết và mạch lạc trong thể loại văn bản này là một yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là xác định các đặc điểm liên kết và mạch lạc xuất hiện phổ biến trong các bài báo KHXH&NV, khẳng định vai trò của hai nhân tố này đối với thể loại văn bản khoa học, từ đó đưa ra các đề xuất nhằm góp phần nâng cao chất lượng bài báo khoa học đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Khái quát những vấn đề lý thuyết về văn bản, liên kết, mạch lạc và cấu trúc của một bài báo khoa học.
  2. Khảo sát, thống kê, phân loại và xác định những phép liên kết cơ bản được sử dụng để tạo tính logic trong các bài báo KHXH&NV.
  3. Khảo sát, thống kê và xác định những biểu hiện đặc trưng thể hiện sự mạch lạc trong các bài báo KHXH&NV.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Những phép liên kết nào được dùng phổ biến trong các bài báo KHXH&NV? Việc sử dụng các phương tiện liên kết trong văn bản khoa học có những đặc thù gì?
  2. Đặc trưng mạch lạc trong các văn bản KHXH&NV là gì?
  3. Những đặc điểm liên kết và mạch lạc trong văn bản khoa học xuất hiện độc lập hay có sự tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau?

Giả thuyết nghiên cứu:

  1. Liên kết và mạch lạc là hai đặc điểm bắt buộc trong văn bản khoa học nhằm thể hiện các suy luận của tư duy logic; liên kết không chỉ dừng lại ở hình thức mà còn đóng vai trò hiện thực hóa, tường minh hóa ngữ nghĩa nội dung cho văn bản khoa học.
  2. Các bài báo KHXH&NV có cấu trúc riêng với cách thức tổ chức thể hiện sự kết nối chặt chẽ, mạch lạc và thống nhất cao giữa các phần cấu thành (tiêu đề, tóm tắt, đặt vấn đề, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, thảo luận, kết luận).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm liên kết và mạch lạc trong 586 bài báo KHXH&NV đăng trên Tạp chí Khoa học - ĐHQGHN từ năm 1985 đến năm 2013, thuộc 8 lĩnh vực chuyên ngành: Pháp luật, Giáo dục, Kinh tế, Xã hội học, Lịch sử, Ngôn ngữ, Triết học, Văn học.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn khảo sát các phép liên kết hình thức và biểu hiện mạch lạc trong quan hệ nội chiếu bên trong văn bản (bao gồm mã tín hiệu ngôn ngữ, cấu trúc lập luận và kết cấu thể loại văn bản); các yếu tố mạch lạc ngoại chiếu ngoài văn bản (ngữ cảnh tình huống, tri thức nền, tương tác người viết - người đọc) được dành cho các nghiên cứu tiếp sau.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu vấn đề theo các hướng chính trên thế giới và tại Việt Nam:

Về tình hình nghiên cứu liên kết và mạch lạc trên thế giới:

  • Giai đoạn khởi đầu từ thập niên 1950 với các nghiên cứu của Moskalskaja (1950, 1981) về tính hoàn chỉnh cấu trúc và ngữ nghĩa của văn bản.
  • Công trình nền tảng “Cohesion in English” (1976) của M.A.K. Halliday và R. Hasan đã xác lập hệ thống 4 phép liên kết: phép nối, phép quy chiếu, phép thế/tỉnh lược, phép liên kết từ vựng, đồng thời đưa ra khái niệm trường ngữ vực (register).
  • Van Dijk (1977) nhấn mạnh liên kết ngữ nghĩa và chủ đề; De Beaugrande và Dressler (1981) xác định liên kết và mạch lạc là 2 trong 7 tiêu chuẩn của tính văn bản (textuality); I. Galperin (1981) phân tích các phương tiện logic, liên tưởng và bố cục; Brown và Yule (1983), David Nunan (1993), Martin (2001), Tanskanen (2006), Furkó (2013) tiếp tục phát triển lý thuyết phân tích diễn ngôn và mối quan hệ giữa liên kết hình thức và mạch lạc ngữ nghĩa.
  • Tác giả tổng hợp 3 quan điểm quốc tế về mối quan hệ giữa liên kết và mạch lạc: (1) coi là hai hiện tượng tách biệt độc lập (Enkvist 1978, Widdowson 1978, Ellis 1992, Hellman 1995, Sanford & Moxey 1995); (2) coi liên kết là yếu tố tạo ra mạch lạc (Hoey 1991, Parsons 1991, Martin 1992, Thompson 1994, Dahl 2000, Furkó 2013); (3) coi liên kết và mạch lạc hòa quyện, quy định lẫn nhau (Halliday & Hasan 1976, Wales, Tanskanen 2006).

Về nghiên cứu liên kết và mạch lạc tại Việt Nam:

  • Hướng lý thuyết và hệ thống phân loại tồn tại hai trường phái: Trường phái cấu trúc coi liên kết gồm cả hình thức và nội dung với 12 phép liên kết (Trần Ngọc Thêm 1985; Đỗ Hữu Châu; Nguyễn Thị Việt Thanh 1999 bổ sung 4 phép trong lời nói); Trường phái chức năng/diễn ngôn tách biệt liên kết hình thức và mạch lạc ngữ nghĩa với 4 nhóm phép liên kết và 7 biểu hiện mạch lạc (Diệp Quang Ban 1998, 2009; Nguyễn Thiện Giáp; Nguyễn Hòa 2003; Đinh Văn Đức).
  • Hướng nghiên cứu ứng dụng và giảng dạy: Nguyễn Chí Hòa (2010), Nguyễn Văn Hiệp (2009), Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán (2009), Phan Thị Tươi, Hữu Đạt.
  • Hướng khảo sát từng phép liên kết cụ thể: Phạm Văn Tình (phép tỉnh lược), Lương Đình Khánh (2006, phép nối), Hồ Mỹ Huyền (2007, tỉnh lược khẩu ngữ), Nguyễn Thị Hà (2010, quy chiếu và lặp từ vựng trong văn bản hành chính), Nguyễn Thị Hường (mạch lạc trong báo cáo, tờ trình), Mai Xuân Huy (2005, ngôn ngữ quảng cáo), Nguyễn Thị Hồng Ngân (2012, cặp thoại dạy học).
  • Hướng so sánh đối chiếu liên ngữ: Hồ Ngọc Trung (phép thế Anh - Việt), Phan Văn Hòa (phương tiện liên kết Anh - Việt), Lê Hùng Tiến (ngôn ngữ luật pháp), Bùi Văn Năm (phương thức nối), Nguyễn Hương Giang (hợp đồng kinh tế), Nguyễn Phú Thọ (liên kết từ vựng), Lê Tấn Thi (ngữ trực thuộc nối).

Về nghiên cứu văn bản khoa học và bài báo khoa học:

  • Quốc tế: Halliday và Martin (1993), Pumpyanski, Robert Day (1998), Swales (1990 với mô hình CARS), Alan Gross, Joseph Harmon và Michael Reidy (2002), Murray (2005), Adrian Holliday (2007), Shahrokhi và cộng sự (2013), Chris Mack (2015).
  • Việt Nam: Đào Hồng Thu (1998, 2001 về phong cách ngôn ngữ khoa học), Vũ Cao Đàm (1998, 2008 về phương pháp luận nghiên cứu), Võ Lý Hòa (2004 về văn bản tóm tắt khoa học), Nguyễn Phước Vĩnh Cố, Nguyễn Văn Tuấn (2011, 2013 về kỹ năng viết bài báo chuẩn quốc tế), Đinh Trọng Lạc, Hữu Đạt, Bùi Minh Toán.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình đi trước đã tiếp cận liên kết và mạch lạc ở nhiều thể loại văn bản nghệ thuật, báo chí, hành chính hoặc khảo sát riêng lẻ từng phép liên kết, song chưa có công trình nào khảo sát thực nghiệm toàn diện trên một ngữ liệu khối lượng lớn các bài báo khoa học tiếng Việt thuộc một tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Khoa học - ĐHQGHN) đại diện cho 8 ngành KHXH&NV, nhằm làm sáng tỏ đồng thời cả hệ thống phương tiện liên kết hình thức lẫn cấu trúc mạch lạc lập luận và cấu trúc thể loại văn bản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp các lý thuyết ngôn ngữ học văn bản và phân tích diễn ngôn:

  • Khung lý thuyết liên kết của M.A.K. Halliday và R. Hasan (1976), Halliday (2004) và sự kế thừa, Việt hóa của Diệp Quang Ban (2009), xác định 4 phép liên kết cơ bản: phép nối, phép quy chiếu, phép thế và phép tỉnh lược, phép liên kết từ vựng.
  • Khung lý thuyết về mạch lạc văn bản theo Diệp Quang Ban (2009) gồm 7 biểu hiện: quan hệ giữa các từ ngữ trong câu, quan hệ đề tài - chủ đề, quan hệ đặc trưng nghĩa, trật tự hợp lý giữa các câu/mệnh đề, quan hệ với tình huống ngoài văn bản, quan hệ giữa các hành động nói, và quan hệ lập luận.
  • Lý thuyết ngữ vực (register) của M.A.K. Halliday gồm 3 biến số: trường (field), thức (mode), không khí (tenor).
  • Lý thuyết lập luận trong văn bản (O. Ducrot, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân) với cấu trúc luận cứ ($P$) và kết luận ($R$).
  • Mô hình cấu trúc bài báo khoa học: IMRAD / AIMRaD và chuẩn cấu trúc 8 thành phần quy định bởi Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ).
  • 6 đặc trưng của văn bản do tác giả đúc kết: dạng tồn tại viết; dung lượng dài/ngắn; có đề tài và chủ đề nhất định; thuộc một phong cách chức năng nhất định; có cấu trúc hình thức và cấu trúc nghĩa hoàn chỉnh; đảm bảo tính liên kết và mạch lạc.
  • 5 đặc trưng của văn bản khoa học: tính chính xác, tính khách quan, tính bình đẳng, tính trừu tượng - khái quát, tính lý trí - logic khoa học.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Kết hợp tiếp cận định tính và định lượng thông qua các thủ pháp: miêu tả, quy nạp, thống kê - phân loại, phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu và cải biến ngữ liệu.
  • Phương pháp phân tích văn bản (Text analysis): Khảo sát, miêu tả, phân loại tần số và phân tích ngữ nghĩa - chức năng của các phương tiện liên kết hình thức; xác định trật tự câu, đoạn, mối quan hệ đề tài - chủ đề và kết cấu các phân đoạn văn bản.
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn (Discourse analysis): Khảo sát sự chi phối của mục đích giao tiếp khoa học, trường ngữ vực đối với việc lựa chọn phương tiện liên kết, tổ chức mạng lập luận và cấu trúc thể loại.

Nguồn tư liệu và khối liệu dữ liệu: 586 bài báo khoa học thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn đăng tải trên Tạp chí Khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội trong giai đoạn 1985–2013, phân bổ đều trên 8 ngành: Pháp luật, Giáo dục, Kinh tế, Xã hội học, Lịch sử, Ngôn ngữ học, Triết học, Văn học; cùng phân nhóm 240 bài báo để phân tích sâu về cấu trúc lập luận.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý thuyết và thực tiễn liên quan đến đề tài. Tác giả phân tích lịch sử nghiên cứu liên kết và mạch lạc trên thế giới và tại Việt Nam, chỉ ra các hướng tiếp cận chính và những điểm chưa thống nhất trong việc định nghĩa, phân loại các phép liên kết.

Về mặt lý luận, chương này xác lập các luận điểm nền tảng:

  • Phân biệt văn bản và diễn ngôn: Diễn ngôn là quá trình giao tiếp rộng hơn, bao hàm cả ngôn bản (giao tiếp nói) và văn bản (giao tiếp viết).
  • Xác định mối quan hệ giữa liên kết và mạch lạc: Liên kết là dấu hiệu hình thức tường minh (bình diện vật chất, biểu hiện qua từ ngữ, cấu trúc), trong khi mạch lạc là sự liên kết ngầm ẩn về mặt ngữ nghĩa và chức năng (bình diện tinh thần, nội dung). Liên kết đóng vai trò là phương tiện hiển ngôn hóa tính mạch lạc của văn bản.
  • Định hình các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ khoa học và cấu trúc chuẩn mực của một bài báo KHXH&NV gồm 8 yếu tố thành phần bắt buộc: Tiêu đề, Tóm tắt, Đặt vấn đề (Dẫn nhập), Đối tượng và phương pháp nghiên cứu, Kết quả nghiên cứu, Bàn luận, Kết luận, Chú thích và tài liệu tham khảo.

Chương 2: Đặc điểm liên kết trong các bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực nghiệm định lượng và định tính về 4 phép liên kết trên ngữ liệu 586 bài báo KHXH&NV với tổng số 53.005 trường hợp sử dụng phép liên kết.

STT Các phép liên kết Số trường hợp Tỷ lệ sử dụng
1 Phép liên kết từ vựng 34.090 64%
2 Phép nối 8.931 17%
3 Phép quy chiếu 8.558 16%
4 Phép thế và phép tỉnh lược 1.426 3%
Tổng cộng 53.005 100%

Kết quả phân tích chi tiết từng phép liên kết:

  • Phép liên kết từ vựng (chiếm 64%): Là phương tiện liên kết chủ đạo nhất. Trong đó, cấu cấu các loại liên kết từ vựng gồm:
    • Phép lặp từ ngữ chiếm tỷ lệ áp đảo: 84%. Thể hiện chủ yếu qua việc lặp lại danh từ, cụm danh từ mang tính thuật ngữ khoa học chuyên ngành; xuất hiện cả lặp đồng quy chiếu, lặp không đồng quy chiếu và đặc biệt là "lặp bắc cầu" qua hệ thống tiêu đề, đề mục của bài báo nhằm duy trì tính nhất quán của chủ đề.
    • Phối hợp từ ngữ (sử dụng các từ cùng trường nghĩa): chiếm 14%.
    • Dùng từ đồng nghĩa, gần nghĩa và trái nghĩa: chỉ chiếm 2%, do văn bản khoa học yêu cầu tính chính xác đơn nghĩa, hạn chế dùng từ thay thế có sắc thái biểu cảm.
  • Phép nối (chiếm 17%): Đóng vai trò thiết lập quan hệ ngữ nghĩa - logic giữa các câu và các đoạn văn thông qua các liên từ, kết từ biểu thị quan hệ nguyên nhân - kết quả (bởi vì, do đó, vì vậy), quan hệ điều kiện - giả thiết (nếu... thì), quan hệ bổ sung (ngoài ra, hơn nữa), quan hệ tương phản (tuy nhiên, ngược lại), hoặc các chỉ từ lập luận (tóm lại, nói chung, như vậy).
  • Phép quy chiếu (chiếm 16%): Xuất hiện dưới các dạng hồi chiếu (hướng về phía trước) và khứ chiếu (hướng về phía sau văn bản), gồm quy chiếu chỉ ngôi, quy chiếu chỉ định (này, đó, kia, nêu trên) và quy chiếu so sánh.
  • Phép thế và phép tỉnh lược (chiếm 3%): Tần số xuất hiện rất thấp. Nguyên nhân là do đặc trưng của văn bản khoa học đòi hỏi sự tường minh, chính xác tuyệt đối; việc lạm dụng đại từ thay thế hoặc tỉnh lược thành phần câu dễ gây ra sự mơ hồ, đa nghĩa hoặc khó tiếp nhận thông tin khoa học.

Chương 2 cũng phân tích sự khác biệt về tần số và cách thức phối hợp các phép liên kết giữa 8 ngành chuyên môn (chẳng hạn ngành Luật học, Triết học sử dụng tần số lặp thuật ngữ và phép nối logic cao hơn so với ngành Văn học), đồng thời so sánh đặc điểm liên kết của bài báo khoa học với các phong cách chức năng khác (nghệ thuật, hành chính, báo chí).

Chương 3: Đặc điểm mạch lạc trong các bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn

Chương 3 đi sâu vào bản chất ngữ nghĩa và tổ chức lập luận của văn bản khoa học thông qua 3 khía cạnh mạch lạc chính:

  1. Mạch lạc trong quan hệ đề tài - chủ đề: Khảo sát sự phân bố và phát triển của đề tài - chủ đề từ tiêu đề (nhan đề bài báo) đến phần tóm tắt và các đề mục nội dung. Bài báo KHXH&NV duy trì tính mạch lạc thông qua các mô hình triển khai: mô hình tuyến tính (chủ đề câu trước làm đề tài cho câu sau), mô hình chủ đề phân nhánh (từ chủ đề bao quát phân tách thành các tiểu chủ đề ở từng phần), và mô hình hội tụ.

  2. Mạch lạc trong quan hệ lập luận: Khảo sát cấu trúc lập luận trên tập mẫu 240 bài báo thuộc 8 ngành:

    • Phân tích cấu trúc lập luận trong phần Dẫn nhập và phần Kết luận, phần Kết quả nghiên cứu và phần Bàn luận.
    • Phân tích mạng lập luận: Chỉ ra các mô hình lập luận gồm các luận cứ cấp 1, cấp 2 ($P_1, P_2...$) hướng tới các kết luận bộ phận ($r_1, r_2...$) và kết luận chung toàn bài ($R$). Lập luận trong bài báo KHXH&NV thể hiện tính khúc chiết thông qua việc sử dụng các chỉ tố lập luận định hướng nghĩa.
  3. Mạch lạc trong trật tự hợp lý giữa các câu, các đoạn và cấu trúc toàn văn bản:

    • Trật tự giữa các câu và đoạn văn được tổ chức theo quan hệ logic - thời gian, quan hệ nhân - quả, quan hệ tổng - phân - hợp hoặc quan hệ so sánh - đối chiếu.
    • Mạch lạc ở cấp độ toàn văn bản được bảo đảm thông qua sự liên kết chặt chẽ giữa 8 yếu tố thành phần cấu trúc. Luận án khảo sát cụ thể: cấu tạo ngữ pháp của tiêu đề (thường là cụm danh từ định danh vấn đề nghiên cứu); mối quan hệ ngữ nghĩa tương thích giữa phần Tóm tắt (Abstract) và phần Nội dung; cấu trúc phân đoạn trong phần Thảo luận và Kết luận.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Luận án góp phần làm rõ và củng cố cơ sở lý luận của ngôn ngữ học văn bản và phân tích diễn ngôn tiếng Việt về mối quan hệ biện chứng giữa liên kết (hình thức) và mạch lạc (nội dung ngữ nghĩa) trong phong cách chức năng khoa học.
  • Xác lập khung tiêu chí miêu tả các phép liên kết đặc thù và các biểu hiện mạch lạc (đề tài - chủ đề, cấu trúc lập luận, cấu trúc thể loại 8 thành phần) trong thể loại bài báo khoa học tiếng Việt.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh định lượng toàn diện, chuẩn xác về tần số xuất hiện của 4 phép liên kết trên khối liệu 586 bài báo khoa học (53.005 trường hợp) thuộc 8 chuyên ngành KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học - ĐHQGHN giai đoạn 1985–2013.
  • Chỉ ra các đặc trưng thực tế: Sự áp đảo của phép lặp từ vựng (84% trong liên kết từ vựng) và tần số rất thấp của phép thế, phép tỉnh lược (3%); vai trò của việc lặp bắc cầu qua hệ thống tiêu đề; sự vận hành của các mạng lập luận từ luận cứ đến kết luận trong phần Kết quả và Bàn luận.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Đối với tác giả viết bài báo khoa học: Cần tuân thủ khung cấu trúc 8 thành phần cố định; sử dụng chuẩn xác các phương tiện liên kết từ vựng và phép nối logic; hạn chế lạm dụng phép tỉnh lược và phép thế đại từ không rõ quy chiếu; bảo đảm sự tương thích ngữ nghĩa tuyệt đối giữa Tiêu đề - Tóm tắt - Nội dung - Kết luận.
  • Đối với các cơ quan xuất bản và ban biên tập tạp chí khoa học: Cần ban hành quy chuẩn thể thức và cấu trúc bài báo rõ ràng, chặt chẽ; coi tính liên kết và tính mạch lạc lập luận là tiêu chí thẩm định, bình duyệt bài báo khoa học theo chuẩn quốc gia và quốc tế.
  • Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc biên soạn giáo trình và giảng dạy các học phần Tiếng Việt thực hành, Rèn luyện kỹ năng soạn thảo văn bản, Ngôn ngữ học văn bản và Phương pháp viết bài báo khoa học tại các trường đại học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Do giới hạn về dung lượng và thời gian, luận án chỉ tập trung khảo sát các phương tiện liên kết hình thức và biểu hiện mạch lạc nội chiếu (nội văn bản: tín hiệu ngôn ngữ, cấu trúc lập luận, bố cục thể loại).
  • Ngữ liệu mới chỉ giới hạn trên một tạp chí đại diện là Tạp chí Khoa học - ĐHQGHN trong khung thời gian từ 1985 đến 2013, chưa mở rộng so sánh với các tạp chí khoa học chuyên ngành độc lập khác.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng nghiên cứu các yếu tố mạch lạc ngoại chiếu (ngoại văn bản) bao gồm: ngữ cảnh văn hóa - xã hội, tri thức nền của cộng đồng diễn ngôn, mối quan hệ tương tác ngữ dụng giữa người viết và người đọc trong tiếp nhận văn bản khoa học.
  • Tiến hành so sánh đối chiếu đặc điểm liên kết và mạch lạc giữa bài báo khoa học tiếng Việt với bài báo khoa học viết bằng tiếng Anh hoặc các ngôn ngữ khác trên các tạp chí quốc tế thuộc cơ sở dữ liệu ISI/Scopus.

Giá trị tham khảo

Công trình có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và các nhà nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo về phương pháp luận và kỹ thuật tổ chức bài báo khoa học, cách sử dụng các chỉ tố lập luận, duy trì mạch lạc chủ đề và liên kết văn bản khi viết công bố khoa học.
  • Giảng viên ngôn ngữ học: Cung cấp nguồn ngữ liệu thực chứng và khung lý thuyết giảng dạy cho các học phần Ngữ pháp văn bản, Phân tích diễn ngôn, Phong cách học tiếng Việt, Tiếng Việt thực hành.
  • Biên tập viên các tạp chí khoa học: Cung cấp cơ sở ngôn ngữ học để xây dựng tiêu chí biên tập, thẩm định kết cấu hình thức, văn phong và tính mạch lạc nội dung của các bản thảo bài báo gửi đăng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ phân bố của 4 phép liên kết trong 586 bài báo KHXH&NV được khảo sát như thế nào? Tổng số 53.005 trường hợp phép liên kết được thống kê có tỷ lệ phân bố: Phép liên kết từ vựng chiếm 64% (34.090 trường hợp), Phép nối chiếm 17% (8.931 trường hợp), Phép quy chiếu chiếm 16% (8.558 trường hợp), Phép thế và phép tỉnh lược chiếm 3% (1.426 trường hợp).

2. Vì sao phép thế và phép tỉnh lược chỉ chiếm tỷ lệ 3% trong các bài báo KHXH&NV? Văn bản khoa học mang đặc trưng lý trí, chính xác và khách quan cao. Việc sử dụng phép thế (dùng đại từ thay thế) hoặc phép tỉnh lược (lược bỏ thành phần câu) dễ dẫn đến tình trạng tối nghĩa, đa nghĩa hoặc mơ hồ về đối tượng quy chiếu, làm giảm độ tường minh và tính chính xác của thông tin khoa học. Do đó, các tác giả có xu hướng hạn chế tối đa hai phép liên kết này.

3. Trong nhóm liên kết từ vựng, loại hình nào chiếm tỷ lệ cao nhất và có vai trò gì? Trong nhóm liên kết từ vựng, phép lặp từ ngữ chiếm tỷ lệ cao nhất với 84% (phối hợp từ ngữ chiếm 14%, từ đồng nghĩa/gần nghĩa/trái nghĩa chỉ chiếm 2%). Phép lặp từ ngữ (chủ yếu là lặp danh từ/cụm danh từ thuật ngữ chuyên ngành) đóng vai trò định danh chính xác khái niệm, duy trì xuyên suốt đề tài - chủ đề từ tiêu đề qua các đề mục (lặp bắc cầu) đến toàn bộ nội dung văn bản, tránh nhầm lẫn cho người đọc.

4. Khung cấu trúc chuẩn mực của một bài báo KHXH&NV gồm những yếu tố thành phần nào? Theo quy định và khảo sát của luận án, bài báo KHXH&NV hoàn chỉnh gồm 8 yếu tố thành phần bắt buộc: (1) Tiêu đề, (2) Tóm tắt, (3) Đặt vấn đề (Dẫn nhập), (4) Đối tượng và phương pháp nghiên cứu, (5) Kết quả nghiên cứu, (6) Bàn luận, (7) Kết luận, (8) Chú thích và tài liệu tham khảo.

5. Luận án phân biệt khái niệm liên kết và mạch lạc như thế nào? Luận án xác định liên kết là các dấu hiệu hình thức tường minh (bình diện vật chất) thể hiện qua các từ ngữ, câu, đoạn nối kết với nhau; còn mạch lạc là sự thống nhất ngầm ẩn về mặt ngữ nghĩa và chức năng (bình diện tinh thần/nội dung) bên trong văn bản và phù hợp với ngữ cảnh ngoài văn bản. Liên kết đóng vai trò là phương tiện hình thức quan trọng để hiện thực hóa và hiển ngôn hóa tính mạch lạc.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thuận là công trình nghiên cứu thực nghiệm quy mô về đặc điểm liên kết và mạch lạc trong văn bản khoa học tiếng Việt dựa trên khối liệu 586 bài báo KHXH&NV đăng tải trên Tạp chí Khoa học - ĐHQGHN giai đoạn 1985–2013. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn, công trình đã làm sáng tỏ ưu thế tuyệt đối của phép liên kết từ vựng, vai trò của phép nối logic, cơ chế vận hành của mạng lập luận và cấu trúc chuẩn mực 8 thành phần của bài báo khoa học. Kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực cho sự phát triển của lý thuyết ngữ pháp văn bản tiếng Việt, đồng thời cung cấp những căn cứ khoa học xác đáng phục vụ công tác biên tập, giảng dạy và chuẩn hóa các công bố khoa học trong giai đoạn hiện nay.