phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2: Một số biện pháp phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh trong day học chủ đề “Tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của biểu thức”ở trƣờng Trung học phổ thông Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm về tư duy Theo tài liệu [19], tƣ duy là một hoạt động nhận thức, là hình thức hoạt động của hệ thần kinh, tƣ duy giúp cho sự định hƣớng, điều khiển hay định hƣớng hành vi. Do đó, tƣ duy có tính sáng tạo, là sản phẩm của sự hoạt động của não, tƣ duy hoạt động khi gặp tình huống có vấn đề.
Đặc điểm của tư duy Qua việc nghiên cứu các tài liệu về tƣ duy [12], [21], [9], có thể hiểu tƣ duy gồm những đặc điểm sau: + Tính có vấn đề của tƣ duy: Tƣ duy chỉ nảy sinh khi gặp hoàn cảnh có vấn đề. Đó là những tình huống mà ở đó nảy sinh những mục đích mới và những phƣơng tiện, phƣơng pháp hoạt động cũ đã có trƣớc đây trở nên không đủ để đạt đƣợc những mục đích đó. Khi gặp hoàn cảnh có vấn đề sẽ kích thích đƣợc tƣ duy, khi cá nhân nhận thức đầy đủ vấn đề đó và chuyển thành nhiệm vụ tƣ duy của mình, lúc đó cá nhân phải xác định đƣợc cái gì đã biết, cái gì chƣa biết, cần phải tìm và có nhu cầu tìm kiếm. + Để con ngƣời tìm hiểu thế giới xung quanh, giải quyết các vấn đề mới của họ cần dựa trên những phát minh, kết quả tƣ duy của ngƣời khác và kinh nghiệm của cá nhân.
+ Tính trừu tƣợng và khái quát của tƣ duy: Tƣ duy có khả năng phân biệt, tách khỏi sự vật, hiện tƣợng những thuộc tính, dấu hiệu cụ thể, cá biệt, chỉ giữ lại những thuộc tính chung, bản chất cho nhiều sự vật, hiện tƣợng, trên cơ sở đó mà khái quát các sự vật, hiện tƣợng riêng lẻ khác nhau nhƣng có những thuộc tính, bản chất chung thành một nhóm, một loại phạm trù, do đó tƣ duy mang tính trừu tƣợng hóa và khái quát hóa. Nhờ đặc điểm này, con ngƣời có thể phần nào dự đoán trƣớc đƣợc tƣơng lai có thể xảy ra của sự vật, 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện tƣợng. + Tƣ duy có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ: Tƣ duy của con ngƣời gắn liền với ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ làm phƣơng tiện biểu đạt. + Tƣ duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính: Mối quan hệ này là quan hệ hai chiều, nhƣ quá trình tƣ duy đƣợc tiến hành trên cơ sở những tài liệu do nhận thức cảm tính mang lại, kết quả của tƣ duy đƣợc kiểm tra bằng thực tiễn dƣới hình thức trực quan, trong khi tƣ duy và kết quả của nó có ảnh hƣởng đến quá trình nhận thức cảm tính.
Các giai đoạn của tư duy Theo tài liệu [20], K.Platonôv đã sơ đồ hóa các giai đoạn của một hành động (quá trình) tƣ duy qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1.Quá trình tư duy Theo đó, mỗi hành động tƣ duy diễn ra qua các giai đoạn bao gồm: + Nhận thức đƣợc vấn đề, xuất hiện các liên tƣởng, hình thành hƣớng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giải quyết; + Xác định giả thuyết trong thực tiễn, nếu giả thuyết đúng thì thực hiện tiếp bƣớc sau, nếu giả thuyết sai thì phủ định nó và hình thành giả thuyết mới; + Thẩm định kết quả, quyết định đƣa ra sử dụng. Nhƣ vậy, quá trình tƣ duy trong hoạt động thực tiễn diễn ra theo một quy trình, thể hiện qua các giai đoạn của tƣ duy nói trên. Các thao tác của tư duy Dựa trên việc nghiên cứu các tài liệu có liên quan [12], [16], [9], các tác giả đều có chung quan điểm cho rằng các giai đoạn của tƣ duy mới chỉ phản ánh đƣợc cấu trúc bên ngoài của tƣ duy, còn nội dung bên trong của mỗi giai đoạn hành động tƣ duy lại là một quá trình diễn ra trên cơ sở những thao tác tƣ duy. Có thể nói các thao tác trí tuệ chính là các quy luật bên trọng của tƣ duy và tƣ duy diễn ra thông qua các thao tác sau: + Phân tích: là quá trình dùng trí óc phân chia đối tƣợng ra thành những bộ phận riêng lẻ, từng yếu tố, khía cạnh riêng biệt nằm trong cái toàn thể, từ đó tìm ra đƣợc những thuộc tính, đặc điểm của từng bộ phận từ đó có thể so sánh, phân loại để nhận thức đƣợc cái toàn thể.
+ Tổng hợp: là dùng trí óc gộp lại, hợp lại, liên kết các bộ phận riêng lẻ thành một chỉnh thể thống nhất để nhận thức đối tƣợng một cách bao quát, toàn diện. + So sánh: là dùng trí óc để nhận xét, đánh giá, so sánh xem các đối tƣợng có điểm giống nhau, khác nhau, định lƣợng xem chúng có bằng nhau hay không bằng nhau. + Trừu tƣợng hóa: là quá trình dùng trí óc để tách các yếu tố không cần thiết ra khỏi các đối tƣợng, những bộ phận, quan hệ, ., chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết để tƣ duy. + Đặc biệt hóa: là quá trình dùng trí óc chuyển từ cả một lớp đối tƣợng sang một đối tƣợng của lớp đó.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Khái quát hóa: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các đối tƣợng khác nhau thành một nhóm, một loại dựa vào thuộc tính những liên hệ, quan hệ chung nhất định. Trong thực tế trƣớc mỗi vấn đề cần giải quyết, những nhiệm vụ khác nhau đòi hỏi huy động các thao tác tƣ duy đan xen vào nhau chứ không nhất thiết phải theo trình tự, không nhất thiết phải thực hiện hết các thao tác tƣ duy nói trên. Tƣ duy sáng tạo 1. Khái niệm về sáng tạo Theo từ điểm tiếng Việt: “Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết cái mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào những cái đã có” [18].
Theo từ điển triết học: “Sáng tạo là tìm ra đƣợc cái mới, không phụ thuộc vào những cái đã có từ trƣớc, là quá trình hoạt động của con ngƣời tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất” [17]. Nhƣ vậy, có thể hiểu theo cách thông thƣờng: Sáng tạo, căn cứ vào những ý tƣởng đã có sẵn làm tài liệu rồi cắt xén, chọn lọc, tổng hợp lại để thành ý tƣởng mới. Khái niệm tư duy sáng tạo Trong cuốn tài liệu [7], tác giả G.Polya quan niệm: “Một tƣ duy gọi là có hiệu quả nếu tƣ duy đó dẫn đến lời giải một bài toán cụ thể nào đó; có thể coi là sáng tạo nếu tƣ duy đó tạo ra những tƣ liệu, phƣơng tiện giải các bài toán sau này; các bài toán vận dụng những tƣ liệu phƣơng tiện này có số lƣợng càng lớn, có dạng muôn màu muôn vẻ, thì mức độ sáng tạo của tƣ duy càng cao”. Theo tài liệu [11], [12], tác giả cho rằng: “Tính sáng tạo của tƣ duy thể hiện rõ nét ở khả năng tạo ra cái mới, phát triển vấn đề mới, phát hiện vấn đề mới, tìm ra hƣớng đi mới, tạo ra kết quả mới”.
Trong tài liệu [17], tác giả cho rằng: “Tƣ duy sáng tạo là tƣ duy có ý 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tƣởng mới, luôn phát hiện, nảy sinh ra các vấn độc đáo, giải quyết công việc kịp thời, có chất lƣợng cao”. Tƣ duy sáng tạo có khuynh hƣớng phát hiện và giải thích bản chất sự vật theo lối mới, hoặc tạo ra ý tƣởng mới, cách giải quyết mới không rập khuôn gò ép theo cái cũ. Một số đặc điểm của tư duy sáng tạo + Tính mềm dẻo: + Tính nhuần nhuyễn: + Tính độc đáo: + Tính hoàn thiện: + Tính nhạy cảm vấn đề: 1. Tính mềm dẻo Môn Toán có vị trí rất quan trọng trong việc rèn luyện và phát triển tính mềm dẻo của tƣ duy sáng tạo cho học sinh, giúp học sinh phƣơng pháp suy nghĩ, suy luận, phƣơng pháp tự học và phát triển trí thông minh, khả năng suy nghĩ linh hoạt, sáng tạo.
Tính mềm dẻo là khả năng thích ứng của tƣ duy, không cứng nhắc cố hữu trong hoạt động trí tuệ, dễ sàng chuyển dịch từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác. Đặc điểm tính mềm dẻo của tƣ duy: + Biết phối hợp, kết hợp tổng quát các thao tác tƣ duy, các phƣơng pháp suy luận; + Dễ dàng thay đổi giải pháp cho phù hợp vấn đề cần giải quyết; + Trong những điều kiện hoàn cảnh mới cần có tƣ duy phù hợp không rập khuôn máy móc những cái đã có sẵn vào trong những điều kiện, hoàn cảnh mà trong đó có những yếu tố đã thay đổi; + Trên cơ sở những kinh nghiệm, phƣơng pháp đã có từ trƣớc biết biến thành cái phù hợp với vấn đề hiện tại. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tài liệu [22], tác giả cho rằng: “ Để rèn luyện tƣ duy sáng tạo, trƣớc hết cần rèn luyện đặc tính mềm dẻo của tƣ duy sáng tạo cho học sinh. Nếu học sinh đƣợc rèn luyện tốt và đạt đƣợc khả năng mềm dẻo trong tƣ duy khi tiếp cận với các bài toán, đó sẽ là cơ sở để hình thành tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo.
cũng nhƣ các đặc tính khác của tƣ duy sáng tạo”. Rèn luyện từng yếu tố cụ thể của tính mềm dẻo của tƣ duy sáng tạo qua khai thác hệ thống bài tập. Để trang bị đƣợc cho học sinh khả năng mềm dẻo linh hoạt trong tƣ duy, giáo viên cần nắm rõ từng đặc tính của tính mềm dẻo, từ đó trong dạy học cần luôn chú trọng bồi dƣỡng từng yếu tố cụ thể đó. Vì thế, giáo viên nên đƣa ra các bài tập mà để giải các bài tập này các em cần phải thực hiện các phép biến đổi, có thể chuyển sang một ẩn khác, hoặc đƣa về dạng bài khác để thực hiện lời giải ngắn gọn, dễ dàng hơn.
Kết hợp với rèn luyện các đặc tính khác của tƣ duy sáng tạo và các hoạt động trí tuệ khác. Rèn luyện tính mềm dẻo của tu duy sáng tạo cho học sinh cần kết hợp với rèn luyện các đặc tính khác của tƣ duy sáng tạo và các hoạt động trí tuệ khác.