Luận Văn Thạc Sĩ Về Giảng Dạy Thơ Trữ Tình Lớp 12 Theo Đặc Trưng Thể Loại

Luận văn thạc sĩ VNU UED nghiên cứu giảng dạy thơ trữ tình lớp 12 theo chương trình chuẩn trung học phổ thông, tập trung vào đặc trưng thể loại.

Chuyên ngành

Sư Phạm Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

126
7
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Thể loại và dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại

1.2. Thể loại văn học

1.3. Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại

1.4. Những vấn đề chung về thơ trữ tình

1.4.1. Khái niệm về thơ trữ tình

1.4.2. Vài nét về thơ trữ tình hiện đại Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX

1.4.3. Đặc trưng của thơ trữ tình

1.4.4. Nhân vật trữ tình, cái tôi trữ tình, hình ảnh thơ, hình tượng thơ

1.4.5. Ngôn ngữ thơ trữ tình

1.4.6. Kết cấu thơ trữ tình

1.4.7. Tình cảm, cảm xúc trong thơ trữ tình

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIẢNG DẠY THƠ TRỮ TÌNH LỚP 12, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN, THPT THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

2.1. Thực trạng giảng dạy thơ trữ tình lớp 12, chương trình Chuẩn, THPT

2.2. Vị trí của thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn 12, chương trình Chuẩn, THPT

2.3. Những thuận lợi, khó khăn

2.4. Thực trạng giảng dạy thơ trữ tình 12, chương trình chuẩn, THPT ở trường THPT

2.5. Kết quả khảo sát từ giáo viên

2.6. Kết quả khảo sát từ học sinh

2.7. Định hướng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình cho học sinh lớp 12, chương trình chuẩn, THPT theo đặc trưng thể loại

2.7.1. Tìm hiểu xuất xứ

2.7.2. Cảm nhận ý thơ

2.7.3. Bài thơ “Tây Tiến” – Quang Dũng

2.7.4. Đoạn trích “Việt Bắc” – Tố Hữu

2.7.5. Đoạn trích “Đất nước” – Nguyễn Khoa Điềm

2.7.6. “Sóng” – Xuân Quỳnh

2.7.7. “Đàn ghi ta của Lorca” – Thanh Thảo

2.7.8. Lí giải, đánh giá

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM

3.1. Những vấn đề chung

3.2. Mục đích thực nghiệm

3.3. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm

3.3.1. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm

3.3.2. Thời gian thực nghiệm

3.4. Nội dung và tiến trình thực nghiệm

3.4.1. Nội dung thực nghiệm

3.4.2. Tiến trình thực nghiệm

3.4.3. Lên kế hoạch thực nghiệm

3.4.4. Làm việc với giáo viên dạy thực nghiệm

3.4.5. Tổ chức thực nghiệm

3.4.6. Thiết kế bài soạn thực nghiệm

3.5. Kết quả thực nghiệm

3.5.1. Tiến hành kiểm tra

3.5.2. Kết quả kiểm tra

3.5.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về giảng dạy thơ trữ tình lớp 12 Tầm quan trọng và đặc trưng

Giảng dạy thơ trữ tình lớp 12 là một phần quan trọng trong chương trình Ngữ văn THPT. Thơ trữ tình không chỉ giúp học sinh cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ mà còn phát triển khả năng tư duy và cảm xúc. Đặc trưng của thể loại thơ trữ tình bao gồm sự biểu đạt cảm xúc sâu sắc, hình ảnh thơ phong phú và ngôn ngữ giàu nhạc điệu. Việc giảng dạy thể loại này cần được thực hiện một cách khoa học và sáng tạo để thu hút học sinh.

1.1. Đặc điểm nổi bật của thơ trữ tình trong chương trình lớp 12

Thơ trữ tình trong chương trình lớp 12 thường mang tính cá nhân, thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của tác giả. Các tác phẩm tiêu biểu như "Tây Tiến" của Quang Dũng hay "Sóng" của Xuân Quỳnh đều có những đặc điểm riêng biệt, từ ngôn ngữ đến hình ảnh, giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và cảm nhận.

1.2. Vai trò của thơ trữ tình trong giáo dục cảm xúc học sinh

Thơ trữ tình không chỉ là một môn học mà còn là một phương tiện giáo dục cảm xúc. Qua việc tiếp xúc với các tác phẩm thơ, học sinh có cơ hội phát triển khả năng cảm thụ nghệ thuật, từ đó hình thành những giá trị nhân văn và thẩm mỹ trong cuộc sống.

II. Những thách thức trong giảng dạy thơ trữ tình lớp 12 hiện nay

Mặc dù thơ trữ tình có nhiều giá trị, nhưng việc giảng dạy thể loại này vẫn gặp phải nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn là sự thiếu hứng thú của học sinh đối với thơ ca. Nhiều học sinh cảm thấy khó khăn trong việc hiểu và cảm nhận các tác phẩm thơ, dẫn đến việc tiếp thu kiến thức không hiệu quả.

2.1. Khó khăn trong việc truyền đạt cảm xúc qua thơ

Giáo viên thường gặp khó khăn trong việc giúp học sinh hiểu và cảm nhận được những cảm xúc tinh tế trong thơ trữ tình. Việc thiếu các phương pháp giảng dạy sáng tạo có thể làm giảm đi sự hứng thú của học sinh.

2.2. Sự thiếu hụt tài liệu và phương pháp giảng dạy hiệu quả

Nhiều giáo viên vẫn sử dụng các phương pháp giảng dạy truyền thống, thiếu sự đổi mới. Điều này dẫn đến việc học sinh không thể tiếp cận được những giá trị nghệ thuật của thơ trữ tình một cách sâu sắc.

III. Phương pháp giảng dạy thơ trữ tình hiệu quả cho lớp 12

Để nâng cao chất lượng giảng dạy thơ trữ tình, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại và sáng tạo. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành sẽ giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và cảm nhận được giá trị của thơ ca.

3.1. Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong giảng dạy

Phương pháp thảo luận nhóm giúp học sinh trao đổi ý kiến và cảm nhận của mình về các tác phẩm thơ. Điều này không chỉ tạo ra không khí học tập tích cực mà còn khuyến khích sự sáng tạo và tư duy độc lập.

3.2. Kết hợp công nghệ thông tin trong giảng dạy thơ

Việc sử dụng công nghệ thông tin như video, hình ảnh minh họa sẽ giúp học sinh dễ dàng hình dung và cảm nhận được nội dung của tác phẩm thơ. Điều này cũng giúp tăng cường sự hứng thú và sự tham gia của học sinh trong giờ học.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu trong giảng dạy thơ trữ tình

Nghiên cứu về giảng dạy thơ trữ tình đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại có thể nâng cao hiệu quả học tập của học sinh. Các kết quả khảo sát cho thấy học sinh có sự tiến bộ rõ rệt trong việc cảm nhận và phân tích các tác phẩm thơ.

4.1. Kết quả khảo sát từ giáo viên và học sinh

Kết quả khảo sát cho thấy đa số giáo viên và học sinh đều nhận thấy sự cần thiết phải đổi mới phương pháp giảng dạy thơ trữ tình. Học sinh cảm thấy hứng thú hơn khi được tham gia vào các hoạt động học tập tích cực.

4.2. Những tác phẩm thơ tiêu biểu và cách tiếp cận

Các tác phẩm như "Việt Bắc" hay "Đất nước" đã được giảng dạy theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, giúp học sinh có cái nhìn đa chiều và sâu sắc hơn về nội dung và hình thức của thơ trữ tình.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho giảng dạy thơ trữ tình

Giảng dạy thơ trữ tình lớp 12 cần được tiếp tục đổi mới và cải tiến để phù hợp với nhu cầu và xu hướng giáo dục hiện đại. Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy sáng tạo sẽ giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn phát triển khả năng cảm thụ nghệ thuật.

5.1. Định hướng phát triển chương trình giảng dạy thơ trữ tình

Cần xây dựng một chương trình giảng dạy thơ trữ tình linh hoạt, phù hợp với đặc điểm tâm lý và nhu cầu của học sinh. Việc này sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển năng lực cảm thụ văn học của học sinh.

5.2. Khuyến khích sự sáng tạo trong giảng dạy

Giáo viên cần được khuyến khích sáng tạo trong việc thiết kế bài giảng và hoạt động học tập. Điều này không chỉ giúp học sinh hứng thú hơn với môn học mà còn phát triển khả năng tư duy độc lập và sáng tạo của các em.

19/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài. - Chương 2: Thực tiễn giảng dạy văn bản thơ trữ tình ở trường THPT. - Chương 3: Đổi mới phương pháp dạy học văn bản thơ trữ tình lớp 12, chương trình Chuẩn, THPT theo đặc trưng thể loại. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.

Thể loại và dạy học tác phẩm văn chƣơng theo đặc trƣng thể loại 1. Thể loại văn học Để việc tiếp nhận đúng hướng, chính xác và giảng dạy đạt hiệu quả một tác phẩm văn chương thì sự hiểu biết những kiến thức về đặc trưng thể loại là rất cần thiết. Bởi lẽ khi có những hiểu biết đúng đắn về loại thể chúng ta mới có căn cứ để xác định được những tính chất của loại ở trong một thể nào đó và khai thác đúng trọng tâm nội dung tác phẩm và tư tưởng mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm đó. Từ điển thuật ngữ văn học, do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) xác định thể loại văn học như sau: Thể loại văn học là dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy.

Trong quá trình sáng tác, các nhà văn thường sử dụng những phương pháp chiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mĩ khác nhau đối với hiện thực, có những cách thức xây dựng hình tượng khác nhau. Các phương thức ấy ứng với những hình thức hoạt động nhận thức khác nhau của con người - hoặc trầm tư, chiêm nghiệm, hoặc qua biến cố liên tục, hoặc qua xung đột,… làm cho tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự thống nhất quy định lẫn nhau về các loại đề tài, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức kết cấu và hình thức lời văn. Ví dụ: nhân vật kịch, kết cấu kịch, hành động kịch với lời văn kịch; hoặc nhân vật trữ tình, kết cấu thơ trữ tình với lời thơ, luật thơ,… Người ta có 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể tập hợp thành từng nhóm những tác phẩm văn học giống nhau về phương thức miêu tả và hình thức tồn tại chỉnh thể ấy. Đó là cơ sở khách quan tồn tại thể loại văn học và cũng là điểm xuất phát để xây dựng nguyên tắc phân chia thể loại văn học.

Thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hướng phát triển vững bền, vĩnh hằng của văn học, và các thể loại văn học tồn tại để gìn giữ, đổi mới thường xuyên các khuynh hướng ấy. Do đó mà thể loại văn học luôn luôn vừa cũ, vừa mới, vừa biến đổi, vừa ổn định. Lí luận văn học dựa vào yếu tố ổn định mà chia tác phẩm văn học thành các loại và thể (hoặc thể loại, thể tài). Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại.

Bất kì tác phẩm nào cũng thuộc một loại nhất định và quan trọng hơn là có một hình thức thể nào đó. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có ba loại: tự sự, trữ tình, kịch. Mỗi loại lại bao gồm một số thể. Thể loại là dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm.

Cùng một loại nhưng các thể khác nhau rất sâu sắc. Ngoài đặc trưng của loại, các thể còn phân biệt nhau bởi hình thức lời văn (thơ và văn xuôi), dung lượng (truyện dài, truyện ngắn,…), loại nội dung cảm hứng (bi kịch, hài kịch, thơ trào phúng, thơ ca ngợi,…). Một số nhà nghiên cứu còn đề xuất cách chia thể theo loại đề tài, chủ đề, chẳng hạn: thơ tình, thơ điền viên, truyện lịch sử, truyện tâm lí xã hội, truyện phong tục,… Điều này cho thấy thể loại văn học là sự thống nhất giữa một loại nội dung và một dạng hình thức văn bản và phương thức chiếm lĩnh đời sống. Các thể loại văn học “là một phạm trù lịch sử.

Nó chỉ xuất hiện vào một giai đoạn phát triển nhất định của văn học và sau đó biến đổi và được thay thế” (D.Li-kha-chốp), vì vậy khi tiếp cận với các thể loại văn học cần tính đến thời đại lịch sử của văn học và những biến đối, thay thế của chúng. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Văn Long trong cuốn Phân tích tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại, NXB Giáo dục Việt Nam cũng chỉ rõ: Thể loại là một phạm trù cơ bản và phổ biến của văn học, chi phối cả sáng tác, lưu truyền, tiếp nhận văn học. Bất kì tác phẩm văn học nào cũng đều tồn tại trong một dạng thức nhất định. Đó là sự thống nhất mang tính chỉnh thể của một loại nội dung với những phương thức biểu đạt và hình thức tổ chức tác phẩm, tổ chức lời văn.

Thể loại văn học chính là sự phân chia loại hình tác phẩm theo những căn cứ nêu trên. Thể loại văn học là sự thống nhất giữa một loại nội dung với một dạng hình thức văn bản và phương thức tái hiện đời sống. Từ xa xưa, ở phương Tây và phương Đông đã xuất hiện nhiều cách phân chia thể loại văn học. Trong lý luận văn học hiện nay, phổ biến hơn cả là cách phân chia tác phẩm văn học thành loại và thể.

Từ thời cổ đại ở Hy Lạp, Arixtốt trong công trình Nghệ thuật thơ ca đã đề xuất cách chia văn học thành ba loại, theo thuật ngữ ngày nay là : tự sự, trữ tình, kịch. Sự phân loại này có khả năng bao quát rộng rãi các tác phẩm văn học, nhưng mới dừng lại ở sự phân loại khái quát nhất. Cần có sự phân loại ở cấp độ cụ thể hơn, bởi vì mỗi tác phẩm văn học không chỉ thuộc về một loại nhất định, mà còn tồn tại trong những dạng cụ thể của các thể. Thể (còn được gọi là thể loại) là những dạng tồn tại của tác phẩm văn học, đã từng có (và sẽ có) trong lịch sử văn học thế giới, mang tính đặc thù của mỗi thời đại văn học, mỗi nền văn học dân tộc hay khu vực.

Thể loại vừa có tính ổn định lại vừa có sự vận động, biến đổi trong tiến trình văn học. Mỗi thể loại được sinh ra ở một thời kì nhất định, rồi được duy trì, biến đổi hoặc mất đi trong các thời đại văn học khác, được thay thế bằng những thể loại khác. Thể loại cũng gắn liền với đặc thù của từng nền văn học dân tộc hoặc khu vực. Nhưng trong quá trình giao lưu giữa các nền 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com văn học, nhiều thể loại từ một nền văn học hoặc một khu vực đã được du nhập vào các nền văn ho ̣c khác, để trở thành những thể loại mang tính quốc tế, tuy vẫn có ít nhiều nét riêng ở mỗi nền văn học.

Đọc và phân tích một tác phẩm văn học không thể không quan tâm đến đặc điểm thể loại của tác phẩm ấy. Bởi vì thể loại chính là cơ sở tạo nên tính thống nhất chỉnh thể của một tác phẩm, tổ chức liên kết các yếu tố nội dung và hình thức, từ đề tài, chủ đề, cảm hứng đến hệ thống nhân vật, kết cấu và lời văn nghệ thuật. Thể loại không những quy định cách thức tổ chức tác phẩm mà còn định hướng cho việc tiếp nhận của độc giả, tạo nên kênh giao tiếp giữa tác phẩm và người đọc. Thể loại của tác phẩm vừa có tính kế thừa, tính liên tục, lại vừa có tính độc đáo, tính biến đổi do sự sáng tạo của tác giả.

Vì thế, phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại không thể chỉ dừng lại ở những đặc điểm chung của một thể loại thể hiện trong tác phẩm, mà còn cần phải chỉ ra nét riêng biệt, độc đáo, thể hiện sự sáng tạo không lặp lại của tác giả. Các tác giả trong cuốn Lý luận văn học (tập 2): Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam quan niệm: “Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quy luật, loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một nội dung nhất định có một hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể”. Từ những điều trên, chúng tôi cùng thống nhất cách hiểu về khái niệm thể loại văn học như sau: Thể loại văn học là phương thức tái hiện đời sống và thể thức cấu tạo văn bản Tên gọi thể loại của tác phẩm cho ta biết: phạm vi và phương thức tiếp xúc, tái hiện đời sống; hệ thống các phương tiện, phương pháp thể hiện tương ứng. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phân loại tác phẩm văn chương chủ yếu dựa vào phương thức tái hiện đời sống; cấu tạo tác phẩm; loại đề tài; chủ đề; thể văn: Tác phẩm văn học được chia ra làm ba loại chính: loại tác phẩm tự sự, loại tác phẩm trữ tình, loại tác phẩm kịch.

Tác phẩm tự sự (nghĩa đen là kể việc) là loại tác phẩm dùng lời kể tái hiện lại những việc làm biến cố nhằm dựng lại một dòng đời như đang diễn ra một cách khách quan, qua đó bày tỏ một cách hiểu và một thái độ nhất định. Tác phẩm tự sự bao giờ cũng có lời kể, lời miêu tả (của người kể chuyện đang chứng kiến, kể ra theo một điểm nhìn) với một giọng điệu nhất định; có cốt truyện chính là cái biến cố xảy ra liên tiếp, sau cái này là cái kia hoặc là cái này làm nảy sinh cái kia, xô đẩy nhau tới một đỉnh cao buộc phải giải quyết, giải quyết xong thì truyện dừng lại; có nhân vật và có rất nhiều loại hình thức ngôn ngữ như trần thuật, đối thoại, độc thoại… Tác phẩm trữ tình (nghĩa đen là chứa đựng tình cảm) là loại tác phẩm qua lời lẽ thể hiện nỗi niềm tâm trạng, những ảnh tượng trông thấy mà thể hiện các cảm xúc, thái độ chủ quan của con người với thế giới. Tác phẩm kịch (nghĩa đen là biểu hiện những căng thẳng đột ngột khác thường) là loại tác phẩm qua việc tái hiện những hành động xung đột kịch để làm tái hiện lên bản chất đời sống và bảy tỏ thái độ. Nói tóm lại, mỗi loại tác phẩm văn học lại có một phương thức kết cấu hình tượng văn học để phản ánh cuộc sống và biểu hiện tư tưởng của nhà văn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giảng Dạy Thơ Trữ Tình Lớp 12: Phương Pháp và Đặc Trưng Thể Loại" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp giảng dạy thơ trữ tình cho học sinh lớp 12, nhấn mạnh những đặc trưng của thể loại này. Tài liệu không chỉ giúp giáo viên hiểu rõ hơn về cách tiếp cận và truyền đạt nội dung thơ một cách hiệu quả, mà còn trang bị cho học sinh những kỹ năng phân tích và cảm thụ văn học cần thiết. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại, giúp nâng cao chất lượng học tập và sự yêu thích văn học của học sinh.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các phương pháp giảng dạy khác, hãy tham khảo tài liệu "Luận văn vận dụng quan điểm giao tiếp vào dạy học ngữ pháp ở bậc trung học phổ thông", nơi bạn có thể tìm hiểu về việc áp dụng giao tiếp trong dạy học ngữ pháp. Bên cạnh đó, tài liệu "Luận văn vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học truyện ngắn vợ nhặt ở trường trung học phổ thông" sẽ giúp bạn khám phá cách tiếp cận kiến tạo trong giảng dạy văn học. Cuối cùng, tài liệu "Luận văn thạc sĩ giáo dục học vận dụng mô hình học hợp tác với sự hỗ trợ của máy vi tính vào dạy học chương điện học vật lí 9 trung học cơ sở" sẽ mang đến cho bạn những ý tưởng mới về việc áp dụng công nghệ trong giảng dạy. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn mở rộng kiến thức và cải thiện kỹ năng giảng dạy của mình.