Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Mô tả nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu Có rất nhiều nghiên cứu về hoạt động đào tạo, giảng dạy dưới góc nhìn học viên như xem xét mức độ hài lòng của sinh viên, đánh giá hoạt động đào quản lý đào tạo. Sau đây, có thể chỉ ra một số nghiên cứu như vậy: - Luận văn Tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý đào tạo của trường Đại học Giao thông, vận tải của Bùi Thị Phương Lan (2012). Luận văn tập trung nghiên cứu và đề xuất các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động quản lý đào tạo nhằm nâng cao năng lực quản lý của đại học giao thông vận tại và chất lượng giáo dục ở các trường nói chung.
Đề tài nghiên cứu lý thuyết và khảo sát ý kiến của lãnh đạo, cán bộ quản lý, chuyên viên chuyên trách đào tạo và giảng viên của trường Đại học Giao thông vận tải về hoạt động quản lý đào tạo. Kết quả đạt được là đưa ra bản khảo sát và đánh giá với 51 tiêu chí từ khâu đầu vào đến tổ chức hoạt động. Đề tài có tính bao quát cao và giá trị áp dụng trong hoạt động quản lý đào tạo. - Luận văn Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc đánh giá của sinh viên đối với hoạt động giảng dạy của sinh viên (Năm 2013) của Vũ Thị Quỳnh Nga, Viện đảm bảo chất lượng giáo dục, đai học Quốc gia,.
Đề tài thực hiện với mục đích tìm hiểu những yếu tố tác động đến việc đánh giá chất lượng giảng dạy của sinh viên. Để từ đó có những điều chỉnh về nội dung và phương pháp giảng dạy. Đề tài tập trung vào các đặc điểm về nhân khẩu học, đặc điểm xã hội, mức sống của sinh viên để đánh giá hoạt động giảng dạy. - Luận văn Đánh giá hoạt động giảng dạy từ phía người học đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên (Nghiên cứ trường hợp Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ Thuật Điện Biên) (năm 2012), Viện Đảm bảo chất lượng Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tác giả tập trung đánh giá 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mức độ tác động của việc đánh giá hoạt động giảng dạy từ phía người học đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên, chỉ ra phương thức tác động của việc đánh giá hoạt động giảng dạy từ phía người học đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên. - Luận văn Nghiên cứu đánh giá chất lượng hoạt động giảng dạy tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền (năm 2008), của Trần Thị Tú Anh, Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn thực hiện nghiên cứu thực trạng hoạt động giảng dạy của Học viện Báo chí tuyên truyền; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy của Giảng viên Học viện; Sử dụng bộ tiêu chí trê để thử nghiệm đánh giá chất lượng giảng dạy tại học viện Báo chí tuyên truyền và đưa ra một số giải pháp đển nâng cao chất lượng giảng dạy tại Học viện Báo chí Tuyên truyền. - Luận văn Đánh giá các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của sinh viên về các dịch vụ hỗ trợ cho sinh viên (Nghiên cứu trường hợp đại học sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh) (năm 2013) của Vũ Thị Thanh Thảo, Viện đảm bảo chất lượng giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Luận văn tập trung vào nghiên cứu các dịch vụ hỗ trợ cho sinh viên trong việc nâng cao khả năng tiếp thu các kiến thức cơ bản. Đồng thời đổi mới việc học các kỹ năng cá nhân và giao tiếp, kỹ năng tạo sản phẩm, quy trình và hệ thống; đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên về dịch vụ hỗ trợ sinh viên và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên với các dịch vụ hỗ trợ đó. Kỷ yếu hội thảo Đảm bảo chất lượng trong đối mới giáo dục đại học, bài viết “Vai trò của sinh viên đối với hoạt động quản trị và đảm bảo chất lượng ở đại học trong bối cảnh hội nhập quốc tế” (năm 2010), của Lê Văn Hảo, tác giả đã đặt ra vấn đề về mặt thuật ngữ nên gọi sinh viên dưới thuật ngữ “khách hàng” hay “người cộng sự” đối với các trường học. Các nhà nghiên cứu tham gia hội thảo thống nhất quan điểm không có một thuật ngữ cố định để nói về vai trò của sinh viên.
Vì vậy, nhà trường và sinh viên cần ý thức đầy đủ về 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa vụ và quyền lợi của mình trong quá trình phát triển chung của mỗi nhà trường. Vấn đề mà nhà nghiên cứu đã chỉ ra khi kết thúc bài viết là chính việc làm hài lòng người học là tác nhân nâng cao chất lượng học tập của sinh viên và nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học. Như vậy, các nghiên cứu trên đã tập trung làm rõ những tác động ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy của giảng viên thông qua khảo sát ý kiến, đánh giá của học viên; hoặc thông việc đánh giá những nhà quản lý, nhà lãnh đạo và đội ngũ giảng viên để biết chất lượng quản lý đào tạo của cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, việc nghiên cứu đánh giá năng lực quản lý của một cơ sở đào tạo thì chưa được đề cập tới trong các nghiên cứu.
Đặc biệt, nghiên cứu dưới lý thuyết chức năng quản lý và tính hệ thống của vấn đề nghiên cứu. Do đó, việc đánh giá năng lực quản lý của cơ sở đào tạo, thông qua đó biết được thực trạng năng lực quản lý và có những đề xuất giải pháp để nâng cao năng lực quản lý lớp học là điều rất cần thiết. Nếu làm tốt được điều này, các cơ sở đào tạo sẽ hình thành được sự cạnh tranh cao trong việc thu hút nhiều học viên và năng cao chất lượng đào tạo. Cơ sở lý luận của nghiên cứu 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Đánh giá Đo lường và đánh giá trong giáo dục từ lâu đã trở thành xu hướng chung cho các quốc gia nhằm đưa ra nhận định và giải pháp cho các vấn đề giáo dục đang cần giải quyết. Tuy nhiên, thuật ngữ đo lường đánh giá có những cách hiểu khác nhau phụ thuộc vào điều kiện riêng của từng quốc gia, vùng, miền, cũng như trình độ quản lý của mỗi địa phương. Trong thực tế sử dụng một vài thuật ngữ như đo lường, đánh giá, kiểm tra thông thường có sự trùng lấp và tương đồng nhau.
Nhưng khi nghiên cứu ngành khoa học đo lường và đánh giá trong giáo dục. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt cơ bản của các thuật ngữ trên như sau[27]: 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Ascessment (đo lường, đánh giá): là quá trình thu thập thông tin và đo lường các thông tin đó. Ví dụ như: để đánh giá năng lực quản lý lớp học dưới góc nhìn học viên chúng ta đi thu thập thông tin bằng các phát phiếu hỏi ý kiến của học viên về năng lực quản lý của đơn vị tổ chức lớp học. Sau đó dựa vào những thông tin đã có, chúng ta xử lý số liệu về phiếu hỏi: xem xét bao nhiêu phần trăm đánh giá khâu tổ chức lớp học là rất tốt, tốt, khá, trung bình hay yếu kém… - Measuament (đo lường): thực hiện việc đo lường và thuật ngữ này gần đồng nghĩa với Ascessment.
- Testing (kiểm tra, thi): đo lường bằng các câu hỏi hoặc các công cụ khác như phiếu điều tra, bảng hỏi. - Evaluation (đánh giá): đo lường đánh giá và đưa ra nhận định hoặc kết luận về một vấn đề. Ví dụ: dựa trên kết quả bài kiểm tra (testing), chúng ta sẽ tiến hành đo lường giá trị đó (Measurement hay Ascessment). Cuối cùng dựa trên việc đo lường hay xử lý số liệu chúng ta thực hiện việc đánh giá.
Như vậy, việc đánh giá thực chất là trả lời hai câu hỏi: đo lường như thế nào? Và kết luận dựa vào số liệu đã đo lường. Đánh giá đôi khi chỉ dựa trên số liệu khách quan, nhưng thông thường là tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin khác nhau như điểm số, giá trị, ấn tượng của đối tượng được đánh giá. Như vậy, trong nghiên cứu chúng ta tiếp cận đánh giá (evaluation) ở khía cạnh tiến hành đo lường kết quả và đưa ra những nhận định, kết luận về vấn đề nghiên cứu. Trong quá trình đánh giá để có những nhận định đúng đắn, không mang tính phiến diện, một chiều, thì ngoài việc dựa vào số liệu thu thập được còn cần sử dụng nhiều kênh thông tin khác bằng các phương pháp như quan sát, phỏng vấn, sử dụng cả thông tin trái chiều để so sánh đánh giá nghiên cứu.
Năng lực 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi nói đến năng lực thường được hiểu là khả năng của một con người cụ thể. Tuy nhiên, con người không làm việc biệt lập, mà luôn tồn tạivận động gắn với một môi trường, một tổ chức nhất định. Do đó, năng lực của cá nhân luôn nằm trong năng lực tổ chức, chịu ảnh hưởng, tác động của năng lực tổ chức về các điều kiện nhất định. Theo trung tâm Từ điển học, NXB Đà Nẵng, 2009: năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tư nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó.
Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) cho rằng: năng lực là khả năng của cá nhân, tổ chức và xã hội để thực hiện các chức năng, giải quyết vấn đề, thiết lập và đạt được mục tiêu một cách bền vững[29]. Năng lực còn được hiểu là khả năng của các cá nhân, các tổ chức hay các hệ thống để thực hiện các chức năng của mình một cách kết quả, hiệu quả và bền vững[1]. Có thể nói năng lực gồm hai bộ phận là khả năng và điều kiện để thực hiện một hoạt động nào đó. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, sau đây là cách tiếp cận năng lực theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng: - Năng lực theo nghĩa hẹp Khi nói đến khái niệm năng lực trong nhiều khoa học như tâm lý học và giáo dục học, nhìn nhận năng lực theo nghĩa hẹp là năng lực của từng cá thể, cá nhân riêng biệt, thuật ngũ năng lực đã được tiếp cận như sau: Theo trường phái di truyền học của A.Sismon cho rằng năng lực phụ thuộc tuyệt đối vào bẩm sinh và di truyền.
Theo quan điểm xã hội của E.