Chương 1: CƠ SƠ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: "Về giáo dục và đào tạo chúng ta phấn đấu để lĩnh vực này cùng với khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, thông qua việc đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam. Những biện pháp cụ thể là: đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo định hướng "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá". Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học,.đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, thực hiện phân cấp, tạo động lực và sự chủ động của các chủ thể tiến hành giáo dục" [2].
Đặc biệt, ngày 15/6/2004 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 40 về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có nêu rõ: "Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu. Đặc biệt, chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo, thông qua việc quản lý phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước " [5]. Chính vì những yêu cầu trên mà Đảng ta đã khẳng định: "Phải nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học phải coi vấn đề đổi mới công tác quản lý giáo dục là một nhiệm vụ trọng tâm bức xúc". Đồng thời, Luật giáo dục cũng nêu: "Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục.
Cán bộ quản lý giáo dục phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và trách nhiệm cá nhân. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà nước có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nhằm phát huy vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, bảo đảm phát triển sự nghiệp giáo dục.” Như vậy, để đạt được các yêu cầu mà các kỳ Đại hội cũng như mục tiêu mà Luật giáo dục đã đề ra thì công việc này không ai khác chính là các nhà giáo dục và quản lý giáo dục. Những năm gần đây có một số Luận văn đã chọn Đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đào tạo làm đề tài tốt nghiệp. Các tác giả nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý chủ yếu đề cập đến đội ngũ cán bộ quản các trường học hoặc của các phòng giáo dục và đào tạo quận huyện.
Chẳng hạn tác giả Nguyễn Văn Thêm đề xuất các “Biện pháp quản lý của phòng giáo dục trong công tác xây dựng đội ngũ quản lý giáo dục phổ thông huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang”. Tác giả Nguyễn Thị Bích Thủy nghiên cứu “Một số biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non tỉnh Bình Định đến năm 2010”. Tác giả Nguyễn Văn Toàn nghiên cứu “Các giải pháp quản lý của phòng giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học”. Tác giả Hoàng Hồng Trang nghiên cứu “Những biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý ở các phòng ban chức năng của Viện Đại học mở Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay”.
Tác giả Ngô Thị Kiều Anh nghiên cứu “ Những giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý phòng ban của trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”. Trên Tạp chí Khoa học Giáo dục và Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục cũng có một số bài báo đề cập đến vấn đề này. Ví dụ một số bài báo của tác giả Đặng Xuân Hải tập trung chủ yếu vào phát triển đội ngũ cán bộ quản lý theo cấp bậc, nghiên cứu phát triển đội ngũ cán bộ quản lý cho từng cơ sở giáo dục thuộc cấp bậc nhưng chưa có những nghiên cứu cụ thể về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các phòng chức năng Sở Giáo dục và Đào tạo. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Các khái niệm công cụ 1. Đội ngũ: Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa thì “đội ngũ là một tập hợp số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lượng” [37]. Đội ngũ bao gồm những người lao động, tức là nguồn nhân lực được sử dụng vào một công việc nào đó do bộ phận hoặc đơn vị quản lý. Đội ngũ này nằm trong nguồn nhân lực.
Quản lý - Cán bộ quản lý 1. Quản lý Mỗi hoạt động, mỗi tổ chức đều phải có con người. Con người là nhân tố cơ bản, quyết định sự thành bại của một tổ chức. Trong mỗi cơ quan, đơn vị vai trò của công tác quản lý chính là việc tổ chức và điều hành mọi hoạt động của đơn vị.
Theo tác giả Ngô Trung Việt, từ quản lý (management) bắt nguồn từ chữ Latinh “manus” nghĩa là bàn tay. Theo nghĩa gốc, thực hiện quản lý là “nắm vững trong tay”, “điều khiển vững tay”. Theo một nghĩa nào đó, quản lý là một nghệ thuật khiến người khác phải làm việc. Tuỳ theo các cách tiếp cận mà ta có các quan điểm khác nhau về quản lý.
Thông thường khi đưa ra khái niệm quản lý các tác giả thường gắn với một loại hình quản lý cụ thể: F.Fayol (1841-1925) coi quản lý là một loại công việc đặc thù, ông đã nói về nội hàm của khái niệm như sau: “quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Fayol còn chứng minh được rằng khoa học quản lý – “quản lý hành chính”, không những cần thiết cho các các tổ chức công nghiệp và hãng kinh doanh mà có thể áp dụng với mọi loại hình tổ chức, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kể cả cơ quan của Chính phủ vì quản lý ở một tổ chức đều có chung những chức năng trên.Follet (1868-1933) cho rằng trong công việc quản lý cần chú trọng tới những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn yếu tố tinh thần và tình cảm. Theo Bà “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác”.Barnard (1886-1961) quan tâm đến đối tượng quản lý là các cá nhân con người đơn nhất và coi tổ chức như một hệ thống mở tức là nhấn mạnh đến mối liên hệ hữu cơ giữa các bộ phận với hệ thống, giữa hệ thống với môi trường đặc thù của tổ chức và đối tượng của quản lý không phải là hoạt động của các cá nhân hoặc bộ phận mà là một hệ thống – tổ chức nhất định. Do vậy “Quản lý không phải là công việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn duy trì hoạt động của tổ chức.
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ quản lý tùy theo cách tiếp cận khác nhau. Theo Từ điển Giáo dục học: "Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [34]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối đa các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra" [28]. Theo tác giả Hà Sỹ Hồ, nếu như ở tầm vĩ mô, nói đến quản lý xã hội thì: "Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội.
bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng" [24]. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Bùi Trọng Tuân, nếu xét trên phương diện hoạt động của một tổ chức thì: "Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường" [31]. Theo tác giả Trần Quốc Thành: "Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan" [32]. Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng cho dù tiếp cận theo cách nào thì chúng ta cũng phải xem xét bản chất của chức năng lao động đặc biệt này.
Bản chất của hoạt động quản lý là cách tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu của tổ chức. Các - Mác đã nói lên được bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển quá trình lao động, một hoạt động tất yếu của xã hội loài người. Theo Các-Mác: "Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cá thể sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó. Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy" [16].