Tổng quan nghiên cứu

Thực hiện bình đẳng giới là thước đo tiến bộ xã hội và là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Theo Báo cáo Phát triển Con người năm 2011 của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Việt Nam xếp thứ 128 trên tổng số 187 quốc gia về Chỉ số Phát triển Con người (HDI), nhưng lại đạt vị trí thứ 48 toàn cầu về Chỉ số Bất bình đẳng giới (GII). Thành tựu này phản ánh nỗ lực thể chế hóa quyền bình đẳng nam nữ kể từ khi Luật Bình đẳng giới năm 2006 được thông qua ngày 29/11/2006 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2007. Tuy nhiên, khoảng cách giữa hệ thống quy phạm pháp luật và thực tiễn thi hành vẫn còn tồn tại nhiều điểm nghẽn. Các định kiến giới thâm căn cố đế cùng sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật đang làm chậm tiến trình giải phóng phụ nữ.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận - pháp lý về quyền bình đẳng giới, phân tích toàn diện thực trạng thi hành pháp luật trên 8 lĩnh vực đời sống xã hội từ năm 2005 đến năm 2010, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật trong giai đoạn mới. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát trên phạm vi cả nước, kết hợp đối chiếu các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Luận văn được triển khai thực hiện từ tháng 10/2011 đến tháng 10/2012. Ý nghĩa nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế, hướng tới mục tiêu tối thiểu 30% đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là nữ theo Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng phương pháp luận Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng pháp lý trong tiến trình bình đẳng giới. Tiếp cận lý thuyết Giới và Phát triển (GAD) cho phép phân định rõ hai khái niệm cốt lõi: giới tính (đặc trưng sinh học tự nhiên, bất biến) và giới (vai trò, vị trí xã hội do con người quy ước, có thể biến đổi theo thời gian). Khung phân tích pháp lý dựa trên 6 nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 6 Luật Bình đẳng giới năm 2006, bao gồm: nam nữ bình đẳng trong mọi lĩnh vực; không bị phân biệt đối xử về giới; biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không phải là phân biệt đối xử; chính sách bảo vệ thai sản cho phụ nữ; bảo đảm lồng ghép giới trong xây dựng pháp luật; và trách nhiệm chung của toàn xã hội.

Hệ thống lý thuyết cũng tích hợp các chuẩn mực quốc tế từ Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) năm 1979 mà Việt Nam là quốc gia thứ 35 phê chuẩn vào ngày 17/02/1981 (chính thức có hiệu lực từ ngày 19/03/1982). Khung quy chuẩn này giúp làm rõ các khái niệm pháp lý then chốt: bình đẳng thực chất, phân biệt đối xử về giới, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới tạm thời và chỉ số phát triển giới (GDI).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết của Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam năm 2007, Báo cáo số 40 của Bộ Nội vụ và dữ liệu thống kê từ 61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn 2001-2011. Mẫu nghiên cứu pháp lý bao gồm hơn 100 văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến 8 lĩnh vực điều chỉnh của Luật Bình đẳng giới năm 2006 và các luật chuyên ngành như Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để khảo sát toàn diện 100% dữ liệu đại biểu Quốc hội qua 13 khóa lập pháp và cơ cấu nhân sự Hội đồng nhân dân 3 cấp qua 2 nhiệm kỳ liên tiếp (1999-2004 và 2004-2011). Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp phân tích quy phạm, so sánh luật học và thống kê định lượng nhằm phát hiện chính xác các khoảng trống lập pháp và sự chênh lệch giữa quy định lý thuyết với thực tiễn chấp hành pháp luật. Timeline nghiên cứu kéo dài 12 tháng, bảo đảm tính xác thực và cập nhật của hệ thống luận cứ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu ghi nhận 4 phát hiện căn bản về thực trạng thực hiện pháp luật bình đẳng giới tại Việt Nam:

Thứ nhất, trong lĩnh vực chính trị, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội duy trì ở mức cao so với khu vực, đạt 26,2% ở Khóa X, 27,3% ở Khóa XI, 25,76% ở Khóa XII và 24,4% ở Khóa XIII. Theo Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU), Việt Nam đứng thứ 40 trên tổng số 188 quốc gia về tỷ lệ nữ nghị sĩ vào năm 2011. Tuy nhiên, tỷ lệ này có xu hướng sụt giảm 1,36% giữa Khóa XII và Khóa XIII, chưa đạt mục tiêu chiến lược 30%.

Thứ hai, tại bộ máy chính quyền địa phương, cơ cấu nữ lãnh đạo ghi nhận bước tiến nhảy vọt. Tỷ lệ nữ giữ chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2004-2011 đạt 26,56%, tăng gấp hơn 3 lần so với mức 8,19% của nhiệm kỳ 1999-2004. Ở cấp huyện, tỷ lệ này tăng từ 11,42% lên 19,6%; cấp xã tăng từ 5,57% lên 10,61%. Khối các bộ và cơ quan ngang bộ có 436 cán bộ nữ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý (chiếm tỷ lệ 23,49%).

Thứ ba, sự tham gia của phụ nữ trong các cơ quan lãnh đạo Đảng còn khiêm tốn. Tỷ lệ nữ trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa VII là 8,21%, Khóa VIII đạt 10,58%, nhưng Khóa IX giảm xuống 8,6% và Khóa X chỉ còn 8,13%. Ở cấp cơ sở, có tới 10 trên 61 tỉnh, thành phố ghi nhận tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy dưới 7%.

Thứ tư, những bất cập pháp lý về độ tuổi lao động tạo rào cản kép. Khoảng cách chênh lệch 5 tuổi khi nghỉ hưu giữa nam (60 tuổi) và nữ (55 tuổi) theo pháp luật lao động làm giảm cơ hội quy hoạch, bổ nhiệm và đào tạo nâng cao trình độ của lao động nữ tới khoảng 15% đến 20% so với nam giới.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của tình trạng bất cập bắt nguồn từ tư tưởng "trọng nam khinh nữ" tích tụ từ thời kỳ phong kiến vẫn còn tồn tại dai dẳng trong một bộ phận cán bộ và người dân. Bên cạnh đó, các chế tài xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới theo Nghị định số 55/2009/NĐ-CP chưa đủ sức răn đe. Việc bố trí nguồn kinh phí thực hiện theo Thông tư số 191/2009/TT-BTC tại nhiều địa phương còn hạn hẹp, mang tính hình thức.

So sánh với các nghiên cứu lý luận trước đây của Giáo sư Lê Thi (2011) và công trình của Tiến sĩ Trần Thị Quốc Khánh (2012), kết quả của luận văn đã phân định rõ ràng giữa việc hoàn thiện luật thực định và quy trình thực hiện pháp luật trên thực tế. Về mặt trình bày trực quan, toàn bộ dữ liệu biến động tỷ lệ nữ tham gia cơ quan lập pháp qua 6 nhiệm kỳ và tỷ lệ nữ lãnh đạo Ủy ban nhân dân 3 cấp có thể được mô hình hóa qua biểu đồ cột ghép đối chiếu và bảng phân tích phương sai tăng trưởng. Cách thức biểu đạt trực quan này giúp các nhà hoạch định chính sách nhận diện ngay các điểm đứt gãy trong quy trình đào tạo, quy hoạch cán bộ nữ.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao hiệu lực thực hiện pháp luật bình đẳng giới, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Rà soát và sửa đổi quy phạm pháp luật: Khẩn trương điều chỉnh các quy định về độ tuổi nghỉ hưu, độ tuổi bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ nữ trong Bộ luật Lao động và Luật Cán bộ, công chức nhằm bảo đảm sự bình đẳng cơ hội thực chất; hướng tới mục tiêu tối thiểu 30% nữ tham gia các cơ quan dân cử và 25% nữ giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt vào năm 2020. Chủ thể thực hiện: Quốc hội, Bộ Tư pháp và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; lộ trình triển khai từ năm 2013 đến năm 2015.

  2. Kiện toàn cơ chế liên ngành và phân bổ nguồn lực: Thiết lập cơ chế phối hợp kiểm tra liên ngành giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ; bảo đảm phân bổ ngân sách tối thiểu từ 1,5% đến 2,0% chi thường xuyên cho công tác bình đẳng giới tại 63 tỉnh, thành phố theo đúng Thông tư số 191/2009/TT-BTC. Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân các cấp; thời gian thực hiện từ năm 2013 đến năm 2017.

  3. Tăng cường thanh tra và siết chặt chế tài xử phạt: Nâng mức xử phạt hành chính đối với các hành vi phân biệt đối xử về giới theo Nghị định số 55/2009/NĐ-CP và Nghị định số 110/2009/NĐ-CP; bảo đảm 100% các vụ việc bạo lực gia đình và vi phạm quyền bình đẳng giới được phát hiện, thụ lý và xử lý dứt điểm. Chủ thể thực hiện: Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với cơ quan Tư pháp; triển khai giai đoạn 2013-2016.

  4. Đổi mới công tác thông tin, truyền thông và lồng ghép giới: Đẩy mạnh tuyên truyền thay đổi định kiến giới qua các phương tiện truyền thông đại chúng; bảo đảm 100% dự án luật, pháp lệnh phải trải qua quy trình thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới theo quy định tại Điều 21 và Điều 22 Luật Bình đẳng giới. Chủ thể thực hiện: Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông; thời gian thực hiện liên tục đến năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) sử dụng làm cơ sở khoa học để đánh giá tác động giới và sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Thứ hai, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp và cán bộ phụ trách công tác lập pháp ứng dụng khung đánh giá của luận văn để thẩm tra quy trình lồng ghép giới trong các dự thảo nghị quyết, luật và văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành.

Thứ ba, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp cùng các tổ chức chính trị - xã hội khai thác số liệu thực chứng để xây dựng các chương trình hành động bảo vệ quyền lợi hợp pháp của phụ nữ và thúc đẩy công tác đào tạo cán bộ nữ tại cơ sở.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Luật học, Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Quản lý công và Xã hội học sử dụng làm tài liệu tham khảo học thuật giá trị cho các công trình nghiên cứu mở rộng về quyền con người và luật học so sánh.

Câu hỏi thường gặp

Luật Bình đẳng giới năm 2006 có những bước tiến đột phá nào so với các quy định trước đó?
Luật Bình đẳng giới năm 2006 lần đầu tiên chuẩn hóa 6 nguyên tắc cơ bản, bao quát toàn diện 8 lĩnh vực đời sống xã hội. Luật chính thức thể chế hóa các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới tạm thời và cơ chế lồng ghép giới bắt buộc trong quy trình lập pháp, tạo hành lang pháp lý vững chắc hơn so với các điều khoản tản mạn trước đây.

Vì sao tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội vẫn chưa đạt mục tiêu chiến lược 30%?
Nguyên nhân chủ yếu do các quy định khác biệt về độ tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ làm thu hẹp quỹ thời gian tích lũy chức vụ và cơ hội quy hoạch của cán bộ nữ. Bên cạnh đó, định kiến xã hội và gánh nặng công việc gia đình vẫn là rào cản lớn đối với sự nghiệp chính trị của phụ nữ.

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới có bị coi là phân biệt đối xử không?
Căn cứ Khoản 6 Điều 5 Luật Bình đẳng giới và Điều 4 Công ước CEDAW, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là giải pháp đặc biệt tạm thời nhằm rút ngắn khoảng cách chênh lệch thực tế. Biện pháp này hoàn toàn không bị coi là phân biệt đối xử và sẽ tự động chấm dứt khi mục tiêu bình đẳng giới đạt được.

Kinh phí bảo đảm cho công tác bình đẳng giới tại địa phương được quy định ra sao?
Theo Điều 24 Luật Bình đẳng giới và Thông tư số 191/2009/TT-BTC, nguồn tài chính bao gồm ngân sách nhà nước cấp theo phân cấp, các khoản đóng góp tự nguyện hợp pháp và nguồn tài trợ quốc tế. Các cơ quan có trách nhiệm lập dự toán và sử dụng kinh phí đúng mục đích vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Pháp luật Việt Nam trong lịch sử đã từng bảo vệ quyền phụ nữ như thế nào?
Ngay từ thế kỷ XV, Bộ luật Hồng Đức đã dành 53 trên tổng số 722 điều khoản thuộc các chương Hộ hôn và Điền sản để bảo vệ danh dự, tài sản và quyền ly hôn của phụ nữ khi người chồng bỏ bê quá 5 tháng, tạo nền móng tiến bộ cho tư tưởng lập pháp bình đẳng giới hiện đại.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở chính trị - pháp lý về bình đẳng giới từ truyền thống lập pháp lịch sử đến hệ thống pháp luật hiện hành và Công ước quốc tế CEDAW.
  • Phân tích bức tranh thực tiễn đa chiều với những tiến bộ vượt bậc về tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo chính quyền địa phương (nhiệm kỳ 2004-2011 đạt 26,56% ở cấp tỉnh) song song với các điểm nghẽn trong công tác cấp ủy Đảng.
  • Chỉ rõ 4 nhóm bất cập pháp lý then chốt, đặc biệt là khoảng trống về chế tài xử phạt hành chính và sự bất cập trong quy định độ tuổi nghỉ hưu của lao động nữ.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn liền với chỉ số định lượng, chủ thể chịu trách nhiệm và lộ trình thực hiện cụ thể đến năm 2020.
  • Định hình khung lý thuyết vững chắc làm tài liệu tham khảo cho công tác xây dựng, thẩm tra và thực thi pháp luật bình đẳng giới trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng.

Các nhà quản lý, nghiên cứu sinh và độc giả quan tâm có thể khai thác toàn diện các dữ liệu và giải pháp trong công trình này để phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy cũng như hoạch định chính sách bình đẳng giới thực chất tại Việt Nam.