Tổng quan luận án

Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu

Bảo đảm quyền bình đẳng giới và thúc đẩy sự tham gia chính trị của phụ nữ là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 cho đến các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013, nguyên tắc bình đẳng nam nữ luôn được khẳng định và thể chế hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và Pháp lệnh Dân số. Bên cạnh đó, Việt Nam đã sớm tham gia, phê chuẩn các điều ước quốc tế nền tảng về quyền con người, tiêu biểu như Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 (UDHR), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR), Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 (ICESCR) và Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 (CEDAW).

Tuy nhiên, giữa quy định pháp luật và thực tiễn thi hành vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể. Mặc dù tại cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIV, tỷ lệ nữ đại biểu đạt 26,6% – đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có tỷ lệ nữ nghị sĩ tương đối cao trong khu vực và trên thế giới (xếp thứ 37 trong số 188 quốc gia theo thống kê của Liên minh các Nghị viện năm 2011) – khoảng cách giới tại cơ quan lập pháp vẫn còn lớn (nam giới chiếm 73,4%). Đặc biệt, tỷ lệ phụ nữ nắm giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt (cấp trưởng) còn thấp; tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy các cấp có chiều hướng giảm hoặc đối mặt với tình trạng hẫng hụt nguồn kế cận trong các nhiệm kỳ 2015–2020 và 2020–2025. Những bất cập trong nhận thức xã hội, định kiến giới, năng lực tổ chức thực hiện pháp luật, cùng tính đồng bộ và khả thi chưa cao của một số quy định pháp luật là những rào cản trực tiếp.

Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là: trong khi các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề phụ nữ tham chính dưới góc độ xã hội học, chính trị học hoặc chỉ phân tích quyền con người một cách khái quát, thì chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật về việc thực hiện pháp luật đối với quyền chính trị của phụ nữ tại Việt Nam. Do đó, nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hà đã thực hiện đề tài "Thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay" trong khuôn khổ luận án tiến sĩ luật học.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là từ việc làm rõ lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay, luận giải và xác định các quan điểm cùng hệ thống giải pháp bảo đảm thực hiện hiệu quả nhóm quyền này.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nhiệm vụ một: Phân tích, làm rõ khái niệm quyền chính trị, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ; chủ thể, nội dung, hình thức, vai trò và các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ; rút ra những gợi mở tham khảo cho Việt Nam từ kinh nghiệm quốc tế.
  2. Nhiệm vụ hai: Phân tích, chỉ rõ thực trạng, kết quả đạt được, những hạn chế cùng nguyên nhân của kết quả và hạn chế trong hệ thống pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay.
  3. Nhiệm vụ ba: Luận giải, xác định các quan điểm chỉ đạo và đề xuất hệ thống giải pháp khoa học, khả thi nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu quá trình và cơ chế thực hiện pháp luật đối với nhóm quyền chính trị của phụ nữ.
  • Phạm vi không gian: Được thực hiện trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát, nghiên cứu quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực hiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ từ năm 1945 đến nay (trọng tâm từ thời kỳ đổi mới và sau khi ban hành Hiến pháp năm 2013).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế

Tác giả đã tiến hành tổng thuật chi tiết và phân loại các công trình nghiên cứu theo các nhóm hướng chính:

Nhóm hướng nghiên cứu Các công trình, tác giả tiêu biểu trong văn bản Nội dung và phát hiện chính
1. Quyền chính trị và pháp luật về quyền chính trị - Đề tài cấp Bộ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1986–2001) [61]
- Sách của Hoàng Văn Hảo, Chu Hồng Thanh [56]; Võ Khánh Vinh [157]; Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng [51]; Phạm Văn Ba, Nguyễn Thị Báo, Vũ Công Giao [5]
- Luận án của Lê Hoài Trung [130]
- Bài báo của Vĩnh An [1]; Nguyễn Thị Báo [8]
Làm rõ bản chất, đặc điểm, vị trí của quyền dân sự và chính trị trong hệ thống quyền con người; chuẩn mực quốc tế và sự ghi nhận trong các bản Hiến pháp Việt Nam (đặc biệt là Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013).
2. Lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật (THPL) - Đề tài của Viện Khoa học xã hội [150]
- Các công trình của Đào Trí Úc [141], [142], [144]
- Sách của Nguyễn Minh Đoan [45]
- Luận án của Nguyễn Văn Mạnh [87], Trần Thanh Hương [74], Nguyễn Thị Báo [9], Đỗ Xuân Lân [79], Nguyễn Đỗ Kiên [77], Đỗ Thị Thơm [121], Nguyễn Văn Linh [80], Lê Thúy Bình [14]
- Bài báo của Hoàng Thị Kim Quế [107], Lưu Ngọc Tố Tâm [113]
Phân tích khái niệm, hình thức (tuân thủ, chấp hành, sử dụng, áp dụng pháp luật), quy trình, điều kiện bảo đảm và tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật; đặt THPL trong mối quan hệ với cơ chế điều chỉnh pháp luật và kiểm soát quyền lực nhà nước.
3. Phụ nữ và thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ - Đề tài của Ban Tổ chức Trung ương [7] (khảo sát 1.218 phiếu), Trương Thị Thông [122], Đặng Thị Ánh Tuyết [139]
- Sách của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học về lao động nữ [131], Võ Thị Mai [85], Dương Thanh Mai [84] (bình luận 16 điều CEDAW), Nguyễn Đức Hạt [57], Trịnh Đình Thể [120], UNIFEM - Viện Quyền con người - CIDA [110], Nguyễn Đình Tấn, Lê Tiêu La, Trần Thị Bích Hằng [114], Nguyễn Thị Báo [12]
- Bài báo của Nguyễn Thúy Anh [3], Vương Thị Hanh [52], Nguyễn Thị Thu Hà [53], Nguyễn Thị Phương [103], Trần Thị Vân Anh [4], Phạm Thu Hiền [60], Vũ Mạnh Lợi [83], Võ Thị Mai [86], Đỗ Thị Thạch [115]
- Luận án của Ních Khăm [98], Lê Thị Thục [126], Trần Thị Quốc Khánh [75], Nguyễn Thị Tuyết [140]
Nhận diện thực trạng tham chính của phụ nữ; chỉ ra các rào cản như định kiến giới, phân công lao động gia đình, độ tuổi nghỉ hưu, công tác quy hoạch cán bộ nữ thiếu quyết liệt; đánh giá quá trình nội luật hóa Công ước CEDAW.
4. Các nghiên cứu quốc tế liên quan - Philip Alston [160], Sarah Joseph, Jenny Schultz, Melissa Castan [164], Manfred Nowak [163], Giáo trình Liên Xô [18], F. Heidensohn [161]
- R. Chiongson (Lê Thành Long dịch) [24], Madhu Mehra, Amita Punj [2006], Pippa Norris [2012], Ngô Thị Tuấn Dung [40], UN Women [164], K. Burke [23], UN Women Việt Nam [39], H. Riddell [111], K. Henderson [58], UNDP Việt Nam [32], [34], [35], J. Muro [92]
Cung cấp khung lý thuyết quốc tế về quyền con người và bình đẳng giới; đánh giá pháp luật Việt Nam qua lăng kính CEDAW; chia sẻ kinh nghiệm thúc đẩy bình đẳng giới của Hội đồng châu Âu (qua 5 giai đoạn), New Zealand, khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Qua tổng lược tài liệu, tác giả xác định các khoảng trống mà các nghiên cứu trước chưa giải quyết trọn vẹn:

  • Các nghiên cứu trước phần lớn tiếp cận vấn đề dưới góc độ xã hội học, khoa học lãnh đạo hoặc giới hạn trong từng giai đoạn, từng địa bàn hẹp (như vùng Đồng bằng sông Hồng) mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống dưới góc độ khoa học pháp lý lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
  • Các phân tích trước đây còn thiếu vắng khung lý thuyết hoàn chỉnh để giải thích mang tính hệ thống các rào cản pháp lý và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền chính trị của phụ nữ.
  • Chưa có công trình nào tổng kết xuyên suốt quá trình thực hiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ từ năm 1945 đến nay nhằm chỉ ra bản chất, quy luật vận động và đề xuất giải pháp đồng bộ gắn với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án được triển khai dựa trên:

  • Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo học thuyết Mác – Lênin.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, quyền công dân, giải phóng phụ nữ và công tác cán bộ nữ.
  • Đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ (tiêu biểu như Luận cương Chính trị năm 1930, Nghị quyết số 153-NQ/TW năm 1967, Chỉ thị số 44-CT/TW năm 1984, Nghị quyết số 11-NQ/TW năm 2007) và các quy định của Hiến pháp, pháp luật thực định.
  • Lý luận chung về cơ chế điều chỉnh pháp luật và thực hiện pháp luật (bao gồm các hình thức: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật).

Theo luận án, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ có các đặc điểm nền tảng: tính khách quan, tính quyền lực, tính quy phạm phổ biến, tính bắt buộc chung và tính xã hội; đồng thời mang ba đặc thù riêng biệt:

  1. Ghi nhận và thiết lập các biện pháp bảo đảm quyền con người, quyền công dân cụ thể của phụ nữ (nội luật hóa chuẩn mực quốc tế như UDHR, ICCPR, CEDAW).
  2. Thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo lập điều kiện, cơ hội bình đẳng giữa nam và nữ theo tinh thần Điều 26 Hiến pháp năm 2013.
  3. Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về công tác phụ nữ thành các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung.

Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra định nghĩa khoa học: "Thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ Việt Nam hiện nay là tổng thể các hoạt động có mục đích của các chủ thể nhằm hiện thực hóa pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thành các hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể qua các hoạt động cụ thể vì mục tiêu bảo đảm cho phụ nữ được hưởng các quyền chính trị và vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý theo từng chương:

  • Chương 1: Phương pháp nghiên cứu tư liệu thứ cấp, phân tích và tổng hợp thông tin từ các công trình khoa học trong và ngoài nước.
  • Chương 2: Phương pháp phân tích, đánh giá quy phạm để xây dựng các khái niệm khoa học; phương pháp phân tích - tổng hợp để làm rõ chủ thể, nội dung, hình thức và các yếu tố bảo đảm; phương pháp luật học so sánh để đối chiếu quy định trong nước với các chuẩn mực quốc tế và kinh nghiệm các quốc gia.
  • Chương 3: Phương pháp thống kê xã hội học và pháp lý, kết hợp phân tích, đánh giá số liệu thực tế qua các kỳ bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân và tham gia cấp ủy Đảng.
  • Chương 4: Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp để xây dựng hệ thống quan điểm và đề xuất các nhóm giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ năm 1945 đến nay: Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, 2013; các luật chuyên ngành (Bầu cử, Tổ chức Quốc hội, Tổ chức Chính quyền địa phương, Cán bộ, công chức, Bình đẳng giới, Bộ luật Hình sự...);
  • Hệ thống các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng;
  • Các điều ước quốc tế: UDHR (1948), ICCPR (1966), ICESCR (1966), CEDAW (1979);
  • Báo cáo số liệu thống kê chính thức của Quốc hội, Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, UNDP, UN Women và Liên minh các Nghị viện (IPU).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Chương này tập trung hệ thống hóa toàn bộ các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến quyền chính trị, thực hiện pháp luật về quyền chính trị và sự tham gia của phụ nữ vào đời sống chính trị. Tác giả phân tích thành tựu của các nghiên cứu đi trước, chỉ rõ những khía cạnh đã được giải quyết và những điểm còn bỏ ngỏ. Từ việc xác định khoảng trống nghiên cứu, chương 1 định hình các câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết khoa học và khẳng định tính tất yếu của việc tiếp cận đề tài dưới lăng kính chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.

Chương 2: Cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng: quyền chính trị của phụ nữ, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ và thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ.

Chương này phân tích sâu sắc năm nhóm chủ thể tham gia vào quá trình thực hiện pháp luật:

  1. Nhà nước và các cơ quan nhà nước: Chủ thể chịu trách nhiệm chính trong việc ban hành văn bản, tổ chức thi hành, áp dụng pháp luật và thiết lập cơ chế bảo đảm, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm.
  2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân (đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ, Ban Nữ công): Thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và tập hợp ý chí, nguyện vọng của phụ nữ.
  3. Các cơ quan thông tin, báo chí: Giữ vai trò định hướng dư luận, tuyên truyền chính sách, biểu dương điển hình tốt và phê phán các hành vi định kiến, phân biệt đối xử, vi phạm quyền của phụ nữ.
  4. Nam giới: Có trách nhiệm nhận thức đúng đắn, tôn trọng, không cản trở, hỗ trợ và tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện quyền chính trị trong gia đình và ngoài xã hội.
  5. Bản thân người phụ nữ: Chủ thể trung tâm, cần nâng cao ý thức pháp luật, tinh thần tự vươn lên, chủ động sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và tham gia quản lý nhà nước.

Bên cạnh đó, chương 2 phân tích các hình thức thực hiện pháp luật (tuân thủ, chấp hành, sử dụng và áp dụng pháp luật) cùng các yếu tố bảo đảm (chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý, văn hóa); đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và các bài học gợi mở đối với Việt Nam.

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 đi sâu đánh giá thực trạng thể chế pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ tại Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử từ năm 1945 đến nay.

Nội dung chương được minh chứng bằng hệ thống các số liệu thống kê qua các bảng và biểu đồ:

  • Bảng 3.1: Đại biểu Quốc hội theo chức vụ.
  • Bảng 3.2: Cơ cấu lãnh đạo chủ chốt trong cơ quan của Quốc hội.
  • Bảng 3.3: Tỷ lệ nữ đại biểu tham gia các Ủy ban Quốc hội.
  • Bảng 3.4: Phụ nữ tham gia Ban Chấp hành Trung ương.
  • Bảng 3.5: Tỉ lệ phụ nữ tham gia cấp ủy Đảng.
  • Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ cử tri đi bầu cử Quốc hội các khóa từ năm 1946 đến nay.
  • Biểu đồ 3.2: Tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội các khóa từ năm 1946 đến nay (khóa XIV đạt 26,6%).
  • Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân ba cấp (giai đoạn 1989–2016).

Chương 3 chỉ ra những kết quả đạt được về tỷ lệ cử tri nữ tham gia bầu cử, tỷ lệ trúng cử đại biểu Quốc hội và HĐND, đồng thời phân tích rõ những hạn chế: tỷ lệ cán bộ nữ giữ cương vị cấp trưởng còn thấp; có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ trong cơ cấu quyền lực; hiện tượng hẫng hụt nguồn cán bộ nữ tại các cấp ủy địa phương; các quy định pháp luật về bình đẳng giới đôi khi còn mang tính hình thức, thiếu chế tài cụ thể.

Chương 4: Quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

Dựa trên các phân tích lý luận và thực trạng, chương 4 xác lập các quan điểm chỉ đạo và đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện:

  • Về quan điểm: Quán triệt đường lối của Đảng về công tác phụ nữ và bình đẳng giới; gắn bảo đảm quyền chính trị của phụ nữ với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa pháp luật quốc gia và các chuẩn mực quốc tế.
  • Về giải pháp:
    • Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ, bổ sung các chế tài xử lý nghiêm minh các hành vi cản trở phụ nữ thực hiện quyền chính trị.
    • Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức xã hội và xóa bỏ định kiến giới.
    • Tăng cường công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng cán bộ nữ trong hệ thống chính trị.
    • Nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và Hội Liên hiệp Phụ nữ.
    • Phát huy tính chủ động, nỗ lực tự thân của phụ nữ trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Là công trình khoa học chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về thực hiện pháp luật đối với quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
  • Xây dựng và hoàn thiện khái niệm khoa học về thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ; làm rõ cấu trúc chủ thể, nội dung, hình thức, vai trò và các yếu tố bảo đảm trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • Phân tích và đúc kết các chuẩn mực quốc tế cùng kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia, từ đó rút ra các giá trị gợi mở phù hợp với hoàn cảnh chính trị, pháp lý và văn hóa của Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Đánh giá toàn diện, khách quan thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn lịch sử từ năm 1945 đến nay.
  • Nhận diện đầy đủ các thành tựu, các điểm nghẽn, hạn chế và chỉ ra các nguyên nhân khách quan, chủ quan (từ góc độ thể chế, định kiến giới, công tác cán bộ đến ý thức pháp luật của các chủ thể).
  • Luận chứng hệ thống quan điểm chỉ đạo và đề xuất các nhóm giải pháp mang tính đồng bộ, khả thi, làm cơ sở thực tiễn cho việc sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác cán bộ nữ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn số liệu thống kê tại các giai đoạn lịch sử ban đầu (từ 1945 đến trước thời kỳ đổi mới) chưa thực sự đồng bộ và chi tiết bằng giai đoạn từ năm 1992 đến nay; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế tập trung vào một số mô hình điển hình có giá trị tham chiếu tương thích với thể chế Việt Nam.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo đảm quyền chính trị của các nhóm phụ nữ đặc thù (phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ vùng sâu vùng xa); khảo sát sâu hơn về tác động của chuyển đổi số và cải cách tư pháp đến việc thực hiện quyền chính trị của phụ nữ ở cấp cơ sở.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và hành pháp: Cung cấp cơ sở khoa học để Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử, Luật Cán bộ, công chức, Luật Bình đẳng giới và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Cơ quan Đảng và tổ chức chính trị - xã hội: Cung cấp luận cứ cho Ban Tổ chức Trung ương, cấp ủy các cấp, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ trong việc xây dựng chỉ tiêu, quy hoạch, đào tạo và đề bạt cán bộ nữ.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu các môn học: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Luật Hiến pháp, Luật Nhân quyền tại các cơ sở đào tạo luật học và khoa học xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả luận án định nghĩa "Thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ" như thế nào?

Theo luận án, thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ Việt Nam hiện nay là tổng thể các hoạt động có mục đích của các chủ thể nhằm hiện thực hóa pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành các hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể qua các hoạt động cụ thể vì mục tiêu bảo đảm cho phụ nữ được hưởng các quyền chính trị và vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

2. Quá trình thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ bao gồm những nhóm chủ thể nào?

Luận án xác định năm nhóm chủ thể cụ thể:

  • Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các cơ quan trong bộ máy nhà nước (chủ thể giữ vai trò chính, trực tiếp ban hành và tổ chức thực thi pháp luật);
  • Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân (trọng tâm là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ, Ban Nữ công);
  • Các cơ quan thông tin, báo chí;
  • Nam giới;
  • Bản thân người phụ nữ (chủ thể trung tâm của quyền).

3. Những con số thống kê tiêu biểu nào trong văn bản phản ánh mức độ tham chính của phụ nữ Việt Nam?

  • Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV đạt 26,6% (đưa Việt Nam xếp thứ 37 trên 188 quốc gia theo thống kê của Liên minh các Nghị viện năm 2011).
  • Trong khi đó, tỷ lệ nam giới trong Quốc hội vẫn chiếm 73,4%, cho thấy sự chênh lệch lớn.
  • Tại cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII, Việt Nam đứng thứ 39/189 quốc gia trên thế giới, xếp thứ 3 khu vực Đông Nam Á và thứ 6 khu vực châu Á – Thái Bình Dương về tỷ lệ nữ đại biểu.

4. Những nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến hạn chế trong thực hiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ?

Luận án chỉ ra các nguyên nhân căn bản:

  • Hệ thống pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ còn thiếu đồng bộ, một số quy định thiếu tính khả thi và thiếu chế tài xử lý vi phạm;
  • Nhận thức về chính sách, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở một số cấp ủy, chính quyền và người dân chưa đầy đủ;
  • Định kiến giới, tư tưởng "trọng nam khinh nữ" và chuẩn mực truyền thống vẫn còn ảnh hưởng trong gia đình và xã hội;
  • Năng lực tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật của cán bộ, công chức còn hạn chế;
  • Công tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm chưa kịp thời, thiếu kiên quyết;
  • Công tác quy hoạch, tạo nguồn và đào tạo cán bộ nữ ở nhiều nơi chưa được chỉ đạo sát sao.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà là công trình nghiên cứu chuyên sâu về phương diện lý luận và thực tiễn việc thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ tại Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Công trình đã làm sáng tỏ hệ thống khái niệm, đặc điểm, vai trò, cấu trúc chủ thể và các hình thức thực hiện pháp luật, đồng thời đánh giá toàn diện bức tranh thực tiễn từ năm 1945 đến nay với nhiều dữ liệu thống kê minh chứng. Trên cơ sở đó, luận án xác lập các quan điểm chỉ đạo và hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền chính trị của phụ nữ, đóng góp vào sự nghiệp bình đẳng giới và tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.