CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TRẺ EM 1. Khái quát về pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền trẻ em 1. Khái niệm quyền trẻ em Từ xưa đến nay, trẻ em luôn được coi là một thành phần quan trọng không thể thiếu trong mỗi gia đình, là biểu tượng của tương lai, là “mầm non”, “tiềm năng” của xã hội. Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người.
Trẻ em không phải người lớn thu nhỏ, chúng vận động và phát triển theo những quy luật khác với người lớn, có cách nhìn, sự cảm nhận và suy nghĩ riêng biệt. Trẻ em là người phát triển chưa đầy đủ về thể chất, tinh thần, trí tuệ, đạo đức và xã hội. Chính vì vậy, trẻ em chư có khả năng tự chăm sóc, bảo vệ mình nên đòi hỏi phải có sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt từ phía người lớn. Về mặt sinh học, trẻ em là con người ở giữa giai đoạn từ khi sinh ra và tuổi dậy thì.
Trẻ em cũng có thể được hiểu trong mối quan hệ gia đình với bố mẹ (như con trai và con gái ở bất kỳ độ tuổi nào) hoặc thành viên nhóm trong một gia tộc, bộ lạc hay tôn giáo, nó có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thời gian, địa điểm, hoàn cảnh cụ thể. Thời Trung cổ, trẻ em được mô tả trong nghệ thuật như người lớn thu nhỏ không có đặc điểm trẻ con. Việc công nhận thời thơ ấu là một trang thái khác nhau từ bắt đầu tuổi trưởng thành xuất hiện trong các thế kỷ XVI và XVII. Vào thế kỷ XVI, hình ảnh của trẻ em bắt đầu có sự khác biệt về yếu tố con trẻ.
Từ cuối thế kỷ XVII trở đi, trẻ em đã được hiển thị qua các trò chơi và đồ chơi, văn học cho trẻ con cũng bắt đầu phát triển vào thời điểm này. 12 Luan van Khái niệm trẻ em được Liên hiệp quốc định nghĩa là “mọi con người dưới 18 tuổi trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em” tế sử dụng tương đối thống nhất và đã được đề cập trong nhiều văn kiện quốc tế, từ Tuyên ngôn Gionevo về quyền trẻ em năm 1924 cho đến Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 đề định nghĩa trẻ em là những người dưới 18 tuổi. Ở Việt Nam, khái niệm trẻ em chính thức được đề cập trong Pháp lệnh Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 1979: “Trẻ em nói trong Pháp lệnh này gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi” (Điều 1). Sau khi phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 1991, trong đó quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.
So với Pháp lệnh năm 1979, độ tuổi của trẻ em được nâng từ 15 lên 16 tuổi và không xác định trẻ em chỉ được tính từ khi mới sinh ra mà được xác định sớm hơn. Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004 tiếp tục xác định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Theo quy định này, những trẻ em dưới 16 tuổi và là công dân Việt Nam mới được hưởng đầy đủ các quyền và bổn phận của trẻ em. Từ những phân tích trên, có thể quan niệm: Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 18 tuổi, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn yếu, có đầy đủ các quyền của con người về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, đồng thời trẻ em cũng có những đặc thù theo lứa tuổi của mình.
Quyền được nhắc đến một cách rộng rãi khi xã hội dân chủ được thiết lập với cuộc Cách mạng dân chủ Tư sản ở châu Âu, từ đây khái niệm quyền được tiến hành nghiên cứu và trở nên có ý nghĩa hơn trong mọi lĩnh vực. Thuật ngữ quyền trong tiếng Anh được gọi là “Right”, trong hệ ngữ Ấn – Âu có nghĩa là việc miêu tả sự di chuyển theo một đường thẳng. Điều này cũng có thể hiểu quyền là những chuẩn mực không thể thay thế được. Do vậy, 13 Luan van quyền có thể được hiểu là những đòi hỏi cơ bản và chính đáng của một con người đáng được hưởng hoặc có thể được làm.
Xã hội trước đó đều đơn giản coi trẻ em là tài sản riêng của các bậc cha mẹ, cha mẹ có toàn quyền đối với con cái mình, kể cả các hình thức ngược đãi và đối xử tàn nhẫn. Đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đề xuất bảo vệ quyền trẻ em trên phạm vi quốc tế. Việc xây dựng quyền cho trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em được hợp thức hóa trong Tuyên ngôn về quyền trẻ em của Liên Hiệp quốc, khái niệm quyền trẻ em được mở rộng, nội dung đầy đủ và tiến bộ hơn. Trong đó, trẻ em được khẳng định là đứa trẻ không có quyền tự chủ hay quyền tự đưa ra quyết định về chính mình theo bất kỳ một hệ thống pháp lý từng biết trên thế giới.
Thay vào đó, những người lớn giám hộ gồm cha mẹ, nhân viên xã hội, giáo viên và những người khác được trao quyền đó, tùy thuộc theo từng hoàn cảnh. Trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, Liên hợp quốc đã công bố rằng trẻ em cần được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt. Trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của Pháp cũng chưa đưa ra khái niệm quyền trẻ em mà chỉ mới dừng lại ở việc đề cập đến quyền con người nói chung. Vấn đề trẻ em chỉ mới dừng lại ở việc đề cập đến quyền con người nói chung.
Vấn đề trẻ em chỉ thực sự được quan tâm từ sau Chiến tranh Thế giới thứ I (1914-1918) với các việc tổ chức cứu trợ trẻ em của Anh và Thụy Điển ra đời vào năm 1919. Năm 1923, Hiến chương về quyền trẻ em được thông qua. Ngày 26/9/1924, Hội Liên quốc (tiền thân của Liên Hợp quốc) đã thông qua Tuyên ngôn Gionevo 1924 về quyền trẻ em do Hiệp hội quốc tế các quỹ cứu trợ trẻ em khởi tạo dựa trên cơ sở Hiến chương về quyền trẻ em năm 1923. Kể từ đây, quyền trẻ em đã trở thành một khái niệm được khẳng định và thừa nhận, quyền trẻ em có quan hệ chặt chẽ với quyền con người, là một bộ phận của quyền con người bởi trẻ em là một thành viên của xã hội, một công dân 14 Luan van đặc biệt của quốc gia.
Vì vậy, có thể khẳng định rằng: Quyền trẻ em là quyền con người của trẻ em, trẻ em được hưởng các quyền con người”. Do vị trí và tính chất đặc biệt của trẻ em, việc bảo vệ quyền trẻ em đã trở thành trách nhiệm cao cả của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế. Từ sự phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa về quyền trẻ em là tất cả những gì cần có để trẻ em được sống và phát triển một cách toàn diện, lành mạnh và an toàn. Về mặt bản chất quyền trẻ em là quyền con người và được cụ thể hóa cho phù hợp với nhu cầu, đặc trưng phát triển và tính cách cuộc sống của trẻ em.
Quyền trẻ em nhằm đảm bảo cho trẻ em không chỉ là người tiếp nhận sự yêu thương và chăm sóc của người lớn, mà các em còn là thành viên tham gia tích cực vào quá trình phát triển của bản thân, gia đình và xã hội. Khái niệm pháp luật về quyền trẻ em Theo quan điểm của học thuyết Mác – Lênin, pháp luật là hệ thống các quy tắc ứng xử chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Pháp luật với tư cách là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, nó luôn tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội nói chung, cũng như tới các yếu tố của thượng tầng chính trị - pháp lý nói riêng. Sự tác động và ảnh hưởng của pháp luật thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng loại đối tượng và từng loại quan hệ cụ thể có sự điều chỉnh của pháp luật.
Những biểu hiện cụ thể của sự tác động đó bao giờ cũng phải ánh trong khuôn mẫu của các hành vi ứng xử được xác định mà các chủ thể pháp luật phải tuân thủ, chấp hành hoặc lấy đó làm cơ sở để sử dụng hoặc áp dụng chúng cho phù hợp với những điều kiện tương ứng trong hoạt động thực tiễn. Trẻ em là công dân đặc biệt được gia đình và toàn xã hội bảo vệ, chăm sóc, giáo dục ngay từ khi còn là bào thai. Trẻ em không tự mình thực hiện đầy đủ các quyền mà phải dựa vào người lớn. Các quyền này được ghi nhận trong 15 Luan van các văn kiện pháp lý chung về quyền con người.
Trong hệ thống công cụ về bảo vệ quyền trẻ em thì pháp luật là một hợp phần không thể thiếu, đó là cơ sở, là điều kiện bắt buộc để thực hiện các hoạt động về quyền trẻ em trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm trước hết trẻ em có được môi trường sống an toàn, lành mạnh, đồng thời phòng ngừa, đấu tranh và xử lý các hành vi vi phạm quyền trẻ em và giúp đỡ những trẻ em hòa nhập cộng đồng khi bị ngược đãi, xâm hại hay bạo hành. Trên thực tế, hiện nay chưa có khái niệm thống nhất về sự điều chỉnh của pháp luật về quyền trẻ em. Tuy nhiên, từ những khái niệm chung về pháp luật và sự phân tích mối liên hệ giữa pháp luật và vấn đề quyền trẻ em, chúng ta có thể hiểu khái niệm pháp luật về quyền trẻ em như sau: Pháp luật về quyền trẻ em là tổng thể các quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực khác nhau do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm bảo đảm trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh. Như vậy, pháp luật về quyền trẻ em được đặt ra yêu cầu phải bảo đảm môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em.
Trong trường hợp trẻ em bị vi phạm quyền của mình phải được kịp thời trợ giúp trẻ em và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm đó. Nội dung điều chỉnh pháp luật về quyền trẻ em Trong thực tế, pháp luật về quyền trẻ em có khả năng điều chỉnh, tác động, làm cho hành vi, xử sự của một chủ thể thao tác, vận hành theo một chiều hướng nhất định.