Chương 1: Những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Yên Bái. 10 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI 1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về bình đẳng giới 1.
Khái niệm pháp luật về bình đẳng giới 1. Giới và giới tính Giới và giới tính là các khái niệm được dùng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới và được sử dụng chính để phân biệt sự khác nhau nào giữa nam và nữ là do “thiên chức” và sự khác nhau nào không phải là do “thiên chức”. Những khác biệt giữa nam và nữ do “thiên chức” hay “thiên bẩm”, “trời phú”, sinh ra đã có những khác biệt hầu như không thay đổi được trong suốt cuộc đời con người. Những khác biệt giữa nam và nữ do người ta học được từ gia đình, nhà trường và giao tiếp xã hội chứ không phải sinh ra đã có mới là cái tạo nên sự bất bình đẳng nam - nữ mà ta cần đấu tranh xóa bỏ [2;tr12].
Theo quan niệm của nhiều nhà khoa học, Giới và giới tính là hai khái niệm cặp đôi, liên quan chặt chẽ nhau. Trong tiếng Anh giới là GENDER và giới tính là SEX. Do đó, để hiểu khái niệm giới, trước hết cần hiểu khái niệm giới tính. Giới tính là một khái niệm khoa học ra đời từ môn sinh vật học chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học.
Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người, di truyền nòi giống. Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính. Ví dụ: chỉ phụ nữ mới có khả năng mang thai và sinh con. Giới là khái niệm ra đời từ môn xã hội học, chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội.
Nói về giới là nói về vai trò trách nhiệm và quyền lợi mà xã 11 hội quan niệm hay quy định cho nam giới và phụ nữ. Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao động, phân chia các nguồn của cải vật chất, tinh thần, tức là cách đáp ứng nhu cầu của nam và nữ trong xã hội. Ví dụ: theo quan niệm và thói quen đã có từ lâu đời ở nhiều nước, nhiều khu vực thì phụ nữ phải làm hầu hết các công việc trong nhà như chăm con, nấu ăn, phục vụ chồng.Còn nam giới thì có trách nhiệm lao động sản xuất để nuôi gia đình và làm các công việc xã hội. Khi sinh ra, con người chưa có trong bản thân sự phân biệt giới nào mà họ dần dần tiếp thu và chấp nhận từ nề nếp của gia đình, quy ước của xã hội và chuẩn mực của nền văn hóa [21].
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) “Giới tính” chỉ các đặc điểm sinh học và sinh lý học giúp phân biệt được đàn ông hay phụ nữ. Ví dụ hệ xương của người đàn ông phát triển hơn người phụ nữ. “Giới” chỉ các vai trò, hành vi, các hoạt động và các thuộc tính do quan niệm, mong đợi và các chuẩn mực được công nhận rộng rãi liên quan đến phụ nữ và đàn ông. Chúng bao gồm các quan niệm về những đặc điểm và khả năng “điển hình” cho nữ giới và nam giới cũng như các mong đợi được chấp hành rộng rãi về việc phụ nữ và đàn ông nên ứng xử như thế nào trong nhiều tình huống khác nhau.
Những quan niệm và mong đợi này được truyền tải hằng ngày trong gia đình, giữa bạn bè, theo ý kiến các nhà lãnh đạo, theo các thể chế tôn giáo và văn hóa, trường học, nơi làm việc, quảng cáo và các phương tiện truyền thông. Chúng phản ánh và tác động lên các vai trò khác nhau mà phụ nữ và nam giới có thể thực hiện trong xã hội, cũng như vị trí, sức mạnh kinh tế. Ở Việt Nam dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm giới tính lần đầu tiên được quy định cụ thể tại khoản 2, điều 5, Luật bình đẳng giới “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ” [28]. Như vậy, giới tính chỉ rõ sự khác biệt về sinh học giữa nam và nữ.
Những đặc điểm mang tính bẩm sinh, hình thành từ trong bào thai. Thông thường mỗi người sinh ra đã mang các 12 đặc điểm giới tính của nam hoặc nữ mà không phụ thuộc vào mong muốn của cá nhân đó hay của cha, mẹ. Các đặc điểm của mọi người cùng giới tính về cơ bản là giống nhau, không hoặc ít thay đổi theo lịch sử hay điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, thể chế. Với tiến bộ khoa học, ngày nay người ta có thể phẫu thuật chuyển đổi giới tính.
Tuy vậy, phẫu thuật chỉ tạo ra những thay đổi về thể hình mà không thay đổi được chức năng sinh lý như: Nữ giới có trứng, có khả năng mang thai, sinh con, nuôi con bằng sữa mẹ; nam giới có tinh trùng, có khả năng làm cho phụ nữ mang thai…Trong khoản 1, điều 5, Luật Bình đẳng giới “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [28]. Như vậy, từ “Giới” trong Luật bình đẳng giới có nghĩa hoàn toàn khác với từ “giới” trong từ điển tiếng việt, từ “giới” là từ chỉ “lớp người trong xã hội phân theo một đặc điểm rất chung nào đó, về nghề nghiệp, địa vị xã hội” như giới tiểu thương, giới quân sự, giới phụ nữ, … “Giới tính” và “giới” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, mặc dù hai khái niệm này đều xoay quanh vấn đền về con người, mà ở đây cụ thể là giữa người nam và người phụ nữ, song mỗi khái niệm đều mang những đặc điểm riêng biệt, chỉ những vấn đề khác nhau đối với một con người khi sinh ra lớn lên và tồn tại trong xã hội. Các đặc điểm phân biệt giới tính và giới Giới tính Giới Đặc điểm về sinh học khác nhau Cách ứng xử, vai trò, hành vi mà xã hội giữa nam và nữ (sinh ra đã có) mong đợi ở nam và nữ (không phải sinh Ví dụ: Vóc dáng, giọng nói, cơ ra đã có) quan sinh dục… Ví dụ: Chồng là trụ cột trong gia đính, phụ nữ luôn phụ thuộc vào nam giới, chống làm những việc lớn, vợ phải giỏi nội trợ 13 Người ta khi sinh ra đã thuộc về Người ta học và nhập tâm về các vai trò một giới tính nhất định và không giới trong quá trình trưởng thành và thay đổi theo thời gian (Nếu giao tiếp xã hội, điều này có thể thay không có sự can thiệp của y học). đổi theo thời gian.
Ví dụ: Một người sinh ra đã biết Ví dụ: Ở rất nhiều nước phụ nữ đảm là trai hay gái căn cứ vào các đặc nhiệm vai trò chăm sóc con cái nhưng điểm sinh học của cơ thể. càng ngày nam giới càng tham gia nhiều hơn vào công việc này. Quan niệm về giới tính của một Quan niệm về các vai trò giới khác nhau người ở nơi nào cũng vậy. theo phong tục, tập quán, theo vùng và Ví dụ: Một người sinh ra đã là thời gian.
Thời phong kiến: nam giới có thể có nhiều vợ, ngày nay nam giới chỉ có thể có một vợ (thay đổi theo thời gian) (khó) không thay đổi được Có thể thay đổi theo thời gian Trừ khi phẫu thuật, dùng hóc Có thể thay đổi khi quan niệm xã hội và môn có thể thay đổi hình thể đến các điều kiện xã hội thay đổi. một mức nào đó. (Nguồn: “Bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình” - Hà Nội, 2007 Ban gia đình xã hội Hội LHPN Việt Nam) [2,tr13] Từ biểu phân biệt trên cho chúng ta thấy rõ sự khác nhau giữa khái 14 niệm “giới tính” và khái niệm “giới” nhằm phân biệt hai loại đặc điểm của phụ nữ và nam giới. Một loại đặc điểm do yếu tố sinh học quy định - đặc điểm giới tính, loại đặc điểm thứ hai do quan niệm xã hội và sự phân công lao động xã hội tạo nên - đặc điểm giới.
Như vậy, muốn đạt đến vấn đề bình đẳng giới tức là bình đẳng về xã hội giữa nam và nữ thì vấn đề không phải là thay đổi các đặc điểm về giới tính, mà cần phải thay đổi quan niệm về vị trí, vai trò của người phụ nữ và nam giới cũng như thay đổi những định kiến về giới, thay đổi về cách phân công lao động trong xã hội [34; tr9,10]. Bình đẳng giới Bình đẳng giới là mục tiêu và là thước đo tiến bộ sự phát triển của một xã hội và là một tiêu chí văn hóa. Sự bình đẳng giới được thể hiện ở nhiều phương diện, cụ thể như: Bình đẳng trong đối xử, bình đẳng về cơ hội, bình đẳng về hưởng thụ, lợi ích, bình đẳng trong kiểm soát và ra quyết định…Như vậy, bình đẳng giới không chỉ đơn giản là số lượng của phụ nữ và nam giới, hay trẻ em trai và trẻ em gái tham gia trong tất cả các hoạt động là như nhau, cũng không có nghĩa là nam giới và phụ nữ giống nhau, mà bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được công nhận và hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội. Bình đẳng giới theo quan niệm của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) bình đẳng giới hoặc bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới, có nghĩa là bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ, cơ hội, sự đối xử và sự đánh giá về phụ nữ và nam giới [27].
Trong công việc tại doanh nghiệp Trong mối quan hệ giữa công việc và cuộc sống. Có nghĩa tất cả mọi người cần được đối xử một cách tôn trọng và được thể hiện hết khả năng của mình, nhằm mang đến cuộc sống có chất lượng tốt hơn cho mọi người, điều này không có nghĩa là phụ nữ và nam giới cần phải giống hết nhau trong mọi công việc. Phụ nữ và nam giới có thể lực và thực tế 15 rất khác nhau nhưng cần có quyền bình đẳng về trách nhiệm, quyền lợi, cơ hội, được đối xử và đánh giá một cách công bằng. Ở Việt Nam, thuật ngữ “Bình đẳng giới” lần đầu tiên được quy định tại khoản 3, điều 5, Luật bình đẳng giới, “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” [28].