Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE PHÁP LUẬT HÒA GIẢI TRANH CHAP DAT DAI VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VE HÒA GIẢI TRANH CHAP DAT DAI 1. Một số van dé lý luận về hòa giải tranh chấp dat đai 1. Khái niệm hòa giải tranh chấp đất đai 1. Khai niệm của hoa giải Khái niệm hòa giải đã được sử dụng từ hàng ngàn năm nay trong nhiều khía cạnh của đời sống cộng đồng, gia đình và các đơn vị chính quyền.
Trong khoa học cũng như trong thực tiễn có nhiều quan niệm về hòa giải tùy theo cách tiếp cận phù hợp với từng loại hình hòa giải. Một số luật gia cho rằng hòa giải là chế định pháp luật về hòa giải, coi hòa giải như một nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động của Tòa án, còn các nhà thực tiễn thì coi hòa giải là những hành vi thuyết phục các bên tranh chấp xóa bỏ những tranh chấp, mâu thuẫn, bất đồng. Một số quan điểm khác có phạm vi tiếp cận rộng hơn lại cho rằng thuật ngữ hòa giải được sử dụng không chỉ để miêu tả việc giải quyết tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân mà còn là việc giải quyết tranh chấp giữa các nhóm lợi ích, giữa các dân tộc hoặc các quốc gia với nhau để tìm kiếm tiếng nói chung, tạo lập hòa bình. Theo đó, trên thế giới, có rất nhiều khái niệm khác nhau về hòa giải, cụ thê: Trong Từ điển luật học của Black, hòa giải (conciliation) là: Sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải; hành vì của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ.
Việc giải quyết tranh chấp thông qua người trung gian hòa giải (bên trung lap)[27]. Từ điển Luật học của Pháp định nghĩa “hỏa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đð của người trung gian thứ ba (hòa giải viên) để giúp đưa ra các dé nghị giải quyết một cách thân thién’’ [30]. Còn Luật hòa giải của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, thuật ngữ “hòa giải nhân dan’ là quá trình một Ủy ban hòa giải nhân dân thuyết phục các bên liên quan đến một mâu thuẫn đạt được một thỏa thuận hòa giải trên cơ sở thương lượng bình đăng, tự do ý chí và mang lại một kết quả là giải quyết mâu thuẫn giữa các bên. Về tông quát, hòa giải được hiểu /à phương pháp để giải quyết tranh chap[32], là quá trình mà tại đó hòa giải viên tạo điều kiện giao tiếp và dam phán giữa các bên dé hỗ trợ họ trong việc đạt được một thỏa thuận tự nguyện về tranh chấp của họ[33J.
Trong quá trình hòa giải, vai trò của hòa giải viên là bên thứ ba trung lập, không can thiệp sâu vào những mâu thuẫn bất đồng của các bên. Hòa giải viên chỉ dừng lại ở việc khuyến khích và trợ giúp các bên tìm ra một giải pháp mang tính thực tế mà tất cả các bên liên quan đều có thể chấp nhận sau khi xem xét, nghiên cứu những lợi ích và nhu cầu của họ. Theo Từ điển thuật ngữ của ILO/EASMAT về quan hệ lao động và các van đề liên quan coi “Hoa giải là sự tiếp nối của quá trình thương lượng trong đó các bên cô gang làm điêu hòa những ý kiến bất đồng. Bên thứ ba đóng vai trò người trung gian hoàn toàn độc lập với hai bên.không có quyên áp đặt., hành động như một người môi giới, giúp hai bên ngôi lại với nhau và tìm cách đưa các bên tranh chấp tới những điểm mà họ có thể thỏa thuận được ”.
Theo Hiệp hội hòa giải Hoa kỳ thì “Hoa giải là một qua trình, trong đó bên thứ ba giúp hai bên tranh chấp ngôi lại với nhau dé cùng giải quyết van dé của họ”. Theo quan niệm này, người hòa giải không tham gia vào quá trình hoặc vào việc thỏa thuận các giải pháp. Vai trò chủ yếu của người hòa giải là người trung gian giúp cho hai bên tranh chấp tự nguyện ngồi lại với nhau, tạo điều kiện cho họ duy trì đối thoại và thương lượng giải quyết mâu thuẫn, bất đồng. Cần lưu ý rằng, trên thế giới có hai thuật ngữ: trung gian hòa giải (mediation) và hòa giải (conciliation) để chỉ các biện pháp giải quyết tranh chấp ngoải tố tụng có sự tham gia của một bên thứ ba độc lập nhằm thúc đây, hỗ trợ các bên đạt được sự đồng thuận trong giải quyết mâu thuẫn.
Đây đều là biện pháp giải quyết tranh chấp trong đó các bên thương lượng, tìm kiếm giải 8 pháp cho xung đột của họ với sự hỗ trợ của một bên thứ ba trung lập. Cả hai biện pháp giải quyết tranh chấp này đều là quá trình đòi hỏi các yêu cầu nghiêm túc về bảo mật, trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp các bên luôn có khả năng kiểm soát sự việc và kết quả. Trong phan lớn các trường hop, thuật ngữ trung gian hòa giải (mediation) và hòa giải (conciliation) được sử dụng thay thế nhau, không phân biệt [34]. Tuy nhiên, giữa trung gian hòa giải và hòa giải có điểm khác nhau thé hiện ở: vai trò của bên thứ ba và quy trình tiễn hành giải quyết tranh chấp [35].
Cụ thê: - Vai trò của bên thứ ba: Trong hoạt động trung gian hòa giải, người trung gian có vai trò tạo điều kiện, hỗ trợ, thúc day các bên dé các bên hiểu van dé xung đột giữa họ, xác định quyền lợi mà mỗi bên hướng tới và tìm kiếm một giải pháp hài hòa. Các bên tranh chấp đóng vai trò trung tâm còn người trung gian hòa giải đóng vai trò hỗ trợ. Trong hoạt động hòa giải, hòa giải viên đóng một vai trò sâu hơn trong việc giải thích khía cạnh pháp ly của van dé, nêu những lời khuyên với các bên, đề xuất giải pháp. - Về quy trình: Quy trình hòa giải thường có cau trúc ít chặt chẽ, ít bài bản hơn trung gian hòa giải; ví dụ trong quá trình hòa giải, hòa giải viên thường gặp gỡ các bên một cách tách biệt, còn với trung gian hòa giải, quy trình thường linh hoạt hơn tùy thuộc từng vụ việc cụ thé mà việc t6 chức hòa giải thường là tách biệt hoặc gặp mặt.
Như vậy, xét về mặt lý thuyết, hòa giải và trung gian hòa giải là hai biện pháp giải quyết tranh chấp khác nhau nhưng trong nghiên cứu khoa học, nhiều khi các học giả không thể tách biệt rõ ràng được hai phương pháp này, thậm chí nhiều định nghĩa coi là một. Về mặt pháp luật, cũng không có sự khác biệt về mức độ điều chỉnh và giá trị pháp lý. Thực tế, pháp luật nhiều nước không phân biệt giữa trung gian hòa giải và hòa giải mà coi trung gian hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp thay thế. Chăng hạn trong pháp luật Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Anh, các nước Châu Mỹ la tinh - hòa 9 giải và trung gian hòa giải được coi là một biện pháp ADR.
Luật mẫu của Ủy ban Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) về hòa giải cũng không phân biệt trung gian hòa giải và hòa giải. Ở Việt Nam, sự phân biệt giữa trung gian hòa giải và hòa giải không thực sự rõ nét và khái niệm hòa giải bao gồm cả hoạt động hòa giải và trung gian hòa giải. Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1995 thì hòa giải được hiểu là “hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm ditt xung đột hoặc xích mích một cách ồn thỏa”. Theo Từ điển Luật học của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Hà Nội, năm 1999 (trang 208 — 209) thì “Hoà giải là tự cham dứt việc xích mich, tranh chap giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác.
Hoà giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dai, tốn kém và những trường hop chỉ vì mâu thuân nhỏ mà biến thành việc hình sự". Hoặc theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý — Bộ Tư pháp, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội năm 2006, (trang 365) thì “Hoà giải: Thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp của mình một cách ổn thoả. Thông thường, việc hoà giải được tiễn hành sau khi thương lượng (khiếu nại) giữa các bên đã không dat được kết qua”. Các khái niệm nêu trên tại Việt Nam đều nêu lên phương thức và mục đích của hòa giải nhưng chưa khái quát được bản chất, nội dung va các yếu tô cau thành các loại hình hòa giải.
Trên thực tế cả trong lý luận và trong thực tiễn, các luật gia cho rằng khó có thể đưa ra một khái niệm hòa giải chung cho tất cả các loại hình hòa giải trong đời sống xã hội vì mỗi một loại hình hòa giải đều có đối 10 tượng là các tranh chấp có tính chất, đặc trưng riêng của mình; trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải, chủ thé tham gia quan hệ hòa giải của mỗi loại hình hòa giải cũng khác nhau, mặc dù các loại hình hòa giải cũng có một số đặc trưng chung giống nhau. Trong xã hội, con người gắn kết với nhau bởi những mối quan hệ hết sức đa dạng. Việc xảy ra xích mích, mâu thuẫn, tranh chấp giữa con người voi con người là điều khó tránh khỏi; nói cách khác đó là hiện tượng xã hội mang tính khách quan. Khi mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh, có nhiều phương thức để giải quyết (thương lượng, hòa giải, trọng tại, tòa án), trong đó các loại hình hòa giải, tùy tính chất, mức độ, phạm vi mà mỗi loại hình hòa giải đều phát huy những tác dụng tích cực trong đời sống xã hội.
* Dac điểm của hòa giải[10J - Thứ nhất, hoạt động hòa giải luôn có sự tham gia của bên thứ ba (bên trung lập) dé giúp các bên tranh chấp giải quyết xung đột của họ. Hòa giải viên là người độc lập, khách quan, không thiên vị đối với bất cứ bên tranh chấp nào trong việc điều khiển quá trình hòa giải. Trong hoạt động hòa giải, các bên tranh chấp cần đến một bên thứ ba làm trung gian hòa giải, giúp các bên đạt được thỏa thuận, chấm dứt tranh chấp, bất đồng. Bên thứ ba ở đây là hòa giải viên (hoặc cũng có thể là một cá nhân có uy tín, có sức thuyết phục, cảm hóa các bên tranh chấp) trực tiếp tham gia trong quan hệ hòa giải, nhưng có vai trò trung lập và độc lập với các bên tranh chấp.