Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CƠ BAN VE BAO TRỢ XÃ HOI DOI VOI TRE EM CO HOAN CANH DAC BIET 1. Khái quát chung về bảo trợ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 1.Quan niệm về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và yêu cau đặt ra đôi với công tac bao trợ xã hội Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF - hoạt động trên cơ sở những quy định của công ước Liên hợp Quốc về Quyền trẻ em ngày 02/09/1990), không gọi những trẻ em yếu thế là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, mà gọi là trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt. Theo đó, trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt được xác định là người dưới 18 tuổi (trừ trường hợp pháp luật của mỗi quốc gia công nhận tuôi thành niên sớm hơn), có thể bao gồm: trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em khuyết tật và tàn tật, trẻ em lao động, trẻ em làm con nuôi, trẻ em nghiện ma túy, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị buôn bán và bắt cóc, trẻ em là nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang, trẻ em bi tra tân,. Theo quy định tại Khoản 10 Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016 của Việt Nam, /rẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em không đủ điều kiện thực hiện được quyền sống, quyền được bảo vệ, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền học tập, cần có sự hỗ trợ, can thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội dé được an toàn, hòa nhập gia đình, cộng đồng.
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm các nhóm: trẻ em mồ côi cả cha và mẹ; trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em không nơi nương tựa; trẻ em khuyết tật; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em vi phạm pháp luật; trẻ em nghiện ma túy; trẻ em phải bỏ học kiếm sông chưa hoàn thành phô cập giáo dục trung học cơ sở; trẻ em bị ton hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị bạo lực; trẻ em bị bóc lột; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em bị mua bán; trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải điêu tri dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo; trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, ti nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc. Day là những nhóm trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thé chat và tinh thân, không có đủ các điêu kiện đê thực hiện các quyên cơ bản của trẻ em. Về thực chất, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có mức độ khó khăn hơn nhiều so với trẻ em khác ở nhiều khía cạnh như kinh tế, sức khỏe, điều kiện gia đình,. Về mặt kinh tế, đa phần các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là những đối tượng không có nguồn nuôi dưỡng hoặc thiếu nguồn nuôi dưỡng.
Với đặc điểm của mình, đối tượng này chưa đủ điều kiện để tham gia vào các quan hệ lao động và chưa thé tự mình đảm bảo cho cuộc sống của chính mình. Do vậy các em cần có sự trợ giúp về vật chat và kinh tế dé đảm bảo có một mức sống tôi thiêu. VỀ mặt sức khỏe, trẻ em là nhóm đối tượng chưa có sự hoàn thiện đầy đủ về mặt thé chất và tinh than, đặc biệt là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt lại có sự khiếm khuyết hoặc hạn chế về mặt sức khỏe, làm giảm khả năng nhận thức và lao động. Những khó khăn đó đã tạo nên rào cản lớn khiến các em khó có cơ hội tiếp xúc và hòa nhập với cộng đồng, không được hưởng thụ đầy đủ các chính sách, dịch vụ mà đối tượng trẻ em được hưởng.
Với điều kiện sinh hoạt và hoàn cảnh như trên, trình độ văn hóa của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có mức thấp hơn so với trẻ em bình thường cùng tuổi, do các em không điều kiện dé học tập và tiếp xúc với các dịch vụ giáo dục. Do đó, với các đặc điểm trên, nhóm đối tượng này cần có sự trợ giúp, chăm sóc của xã hội và cộng đồng, nhăm đảm bao sự tôn tai va phát triển. Thực tế cho thấy, tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội của các quốc gia khác nhau, ở từng giai đoạn phát triển khác nhau mà chính sách pháp luật của quôc gia đó xác định cụ thê phạm vi trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Từ khi đất nước tiến hành đổi mới, chuyên sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kéo theo những thay đổi quan quan trọng về mặt kinh tế, đồng thời cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp, trong đó có van dé trẻ em.
Do đó, thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, tạo hành lang pháp lý nhằm thúc day việc chăm sóc, giáo dục trẻ em nói chung, đặc biệt là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đầu tư cho trẻ em là đầu tư cho tương lai của đất nước. Do vậy, hướng tới bảo đảm an sinh xã hội ngày càng tốt hơn cho trẻ em là trách nhiệm của mỗi gia đình và toàn xã hội.
Nhận thức rõ vấn dé trên, trong những năm qua, Dang và Nhà nước ta luôn chú trọng công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Đề thúc đây việc thực hiện quyên trẻ em, ngày 30/5/1994 Ban Bi thư đã ban hành Chi thị 38- CT/TW về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Ngày 28/6/2000 Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 55-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng ở cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, trong đó khang định trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần được ưu tiên bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Trong phạm vi khả năng, cần tạo điều kiện tối đa để mọi trẻ em được bảo vệ, chăm sóc và được phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ.
Chỉ thị 20 - CT/TW ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tac chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới cũng nhấn mạnh chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là van dé có tính chiến lược, lâu dài, góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội ^ LỆ Al nhập quôc tê. Theo đó, mức bảo trợ xã hội phải xuât phát trên cơ sở nhu câu và hoàn cảnh thực tê của nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Mức hưởng bảo trợ xã hội được xác định trên cơ sở của nhu câu chi tiêu cụ thê và tình hình kinh tê của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong khả năng đáp ứng của Nhà nước và ' Phạm Gia Cường (2015), “Tăng cường công tác bảo đảm an sinh xã hội cho trẻ em”, http://www.vn/Home/PrintStory.aspx? distribution=343 | 1 &print=true, ngay 20/07/2015. cộng đồng, với mục đích hỗ trợ và giúp đỡ các em vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, vươn lên hòa nhập cuộc sống.
Chế độ bảo trợ xã hội phải đảm bảo hài hòa giữa nhu cầu thực tế của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt với khả năng đáp ứng và phù hợp với điều kiện kinh tế. Để đảm bảo thực hiện bảo trợ xã hội một cách hiệu quả, van đề quan trọng là phải xác định được nhu cầu thực tế của từng nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở mức độ nào, hình thức nào cho phù hợp. Việc đáp ứng nhu cầu của nhóm đối tượng này phải được tính toán cân đối và phù hợp với khả năng đáp ứng và điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn cụ thé, néu không sẽ không dat được mục đích của bảo trợ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Ngoài ra, bảo trợ xã hội phải được thực hiện theo hướng đa dạng hóa các hoạt động với các phương thức khác nhau mới có thể đảm bảo thực hiện được mục đích của bảo trợ, đảm bảo cuộc sống cũng như sự công bằng dành cho các em.
Khái niệm bảo trợ xã hội và bảo trợ xã hội doi với tré em có hoàn cảnh đặc biệt. " Khái niệm bảo trợ xã hội Trong cuộc sống, không phải lúc nào con người cũng gặp may mắn, thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển, trái lại họ thường xuyên phải đối mặt với những rủi ro, bất hạnh, biến cố. vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Khi rơi vào những tình huống như vậy, nhu cầu khắc phục khó khăn, đảm bảo cuộc sông, vươn lên hòa nhập cộng đồng trở thành cấp thiết và mang tính nhân đạo sâu sắc.
Do đó, có thể nhận thấy, bảo trợ xã hội là biện pháp tương trợ cộng đồng đầu tiên mà con người tìm đến dé giúp nhau vượt qua những tình huống khó khăn. Đây là hình thức tương trợ cộng đồng đơn giản, phố biến và giữ vai trò quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội mỗi quốc gia. Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của bảo trợ xã hội, hầu hết các nước đều tổ chức thực hiện bảo trợ xã hội băng cách xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán. Theo thống kê của Tổ chức Lao động quốc 10 tế (ILO) trong các tài liệu về an sinh xã hội, trong số 172 nước thiết lập hệ thống an sinh xã hội thì chế độ bảo trợ xã hội đều được quan tâm thực hiện ngay từ đầu”.
Ở Việt Nam, mặc dù bảo trợ xã hội đã được thực hiện từ rất lâu với vai trò quan trọng của Nhà nước nhưng cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức về bảo trợ xã hội trong các văn bản pháp luật. Theo cách hiểu thông thường thi đó là “sự giúp đỡ cho qua khỏi cơn nguy khốn” hay “gitip cho qua khỏi cơn nghèo ngặt”. Về ngữ nghĩa thì đa số các nhà khoa học cho rằng cụm từ này gồm hai nhóm từ ghép là “cứu tro xã hội” và “trợ giúp xã hội ”.