Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI VIỆT NAM 1. Lý luận về tranh chấp đất đai 1. Khái niệm tranh chấp đất đai Tranh chấp đất đai là hiện tượng xã hội xảy ra ở bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào trong lịch sử. Tranh chấp đất đai phát sinh manh nha từ những bất đồng, mâu thuẫn giữa những người sử dụng đất với nhau hoặc giữa họ với tổ chức, cá nhân khác về quyền và nghĩa vụ hay lợi ích trong quá trình quản lý và sử dụng đất.
Trong xã hội tồn tại mâu thuẫn giai cấp đối kháng không thể điều hòa được thì tranh chấp đất đai mang "màu sắc" chính trị thể hiện thành cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp sở hữu đất đai và các tư liệu sản xuất chủ yếu khác của xã hội (giai cấp thống trị) với những người lao động không có tư liệu sản xuất phải đi làm thuê (giai cấp bị thống trị). Việc giải quyết triệt để các tranh chấp đất đai được thực hiện bởi những cuộc cách mạng xã hội. Trong xã hội không tồn tại mâu thuẫn giai cấp đối kháng không thể điều hòa được, tranh chấp đất đai chỉ là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ hay lợi ích giữa những người sử dụng đất với nhau hoặc giữa họ với tổ chức, cá nhân khác. Thuật ngữ tranh chấp đất đai được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội để chỉ những bất đồng, mâu thuẫn trong quản lý và sử dụng đất.
Tuy nhiên, xét dưới góc độ học thuật thì tranh chấp đất đai là gì?. Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: "Tranh chấp: Bất đồng, trái ngược nhau"1. Như vậy, theo ngôn ngữ học thì tranh chấp được hiểu là những bất đồng, trái ngược nhau giữa hai hoặc nhiều người (hoặc nhiều bên) trong quan hệ xã hội. Trên thực tế tranh chấp xảy ra ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội với những loại hình phong phú, đa dạng.
Ví dụ: Tranh chấp, bất đồng về quan điểm sống; tranh chấp về bản quyền 1. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2001), Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr. 8 tác giả, tác phẩm; tranh chấp về địa giới hành chính; tranh chấp về kiểu dáng công nghiệp, mẫu mã hàng hóa; tranh chấp về lối đi; tranh chấp về thừa kế tài sản v. Theo Từ điển Giải thích Thuật ngữ Luật học: "Tranh chấp đất đai: Tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất"2.
Theo Luật đất đai năm 2013: "Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai"3. Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội: "Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai"4. Theo Sổ tay Thuật ngữ Pháp lý thông dụng: "Tranh chấp đất đai: Tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai"5. Như vậy, xét về học thuật, các nhà nghiên cứu, giới học thuật nước ta quan niệm tranh chấp đất đai là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất giữa những người sử dụng đất với nhau hoặc giữa họ với tổ chức, cá nhân khác; ví dụ: Tranh chấp về thừa kế tài sản là nhà đất do cha mẹ để lại giữa 05 người con; tranh chấp về lối đi chung giữa hai hộ gia đình ông A và bà B v.
Đặc điểm của tranh chấp đất đai Tìm hiểu về tranh chấp đất đai, tác giả nhận thấy loại tranh chấp này mang một số đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp đất đai không phải là chủ sở hữu đất đai. Do tính đặc thù của chế độ sở hữu đất đai ở nước ta: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (gọi chung là người sử dụng đất) sử dụng ổn định lâu dài; công 2. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học (Phần Luật đất đai, Luật lao động và Tư pháp quốc tế), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
Điều 3 khoản 24 Luật đất đai năm 2013. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. Nguyễn Duy Lãm (chủ biên) (1996), Sổ tay Thuật ngữ pháp lý thông dụng, NXb Giáo dục, Hà Nội, tr.383 9 nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài của người đang sử dụng đất. Do vậy, người sử dụng đất chỉ có thể là chủ thể quản lý đất đai hoặc chủ thể sử dụng đất.
Thứ hai, do tính đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta nên đối tượng của tranh chấp đất đai chỉ giới hạn trong phạm vi tranh chấp về quyền và nghĩa vụ liên quan đến quản lý, sử dụng đất. Điều này có nghĩa là pháp luật chỉ thừa nhận và giải quyết các tranh chấp về quản lý đất đai hoặc tranh chấp về sử dụng đất đai. Các tranh chấp về quyền sở hữu đất đai như tranh chấp về đòi lại đất trước đây đã hiến, tặng cho Nhà nước; tranh chấp về đòi lại đất mà Nhà nước đã chia cấp cho người nông dân trong cải cách ruộng đất; tranh chấp về đòi lại đất trước đây đã góp vào hợp tác xã, tập đoàn sản xuất để làm ăn tập thể nay hợp tác xã, tập đoàn sản xuất bị giải thể v. sẽ không được thừa nhận và xem xét giải quyết.
Thứ ba, theo quy định của pháp luật hiện hành, tranh chấp đất đai bao gồm: i) Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hoặc người sử dụng đất tuy chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013; ii) Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất. Xét về bản chất pháp lý, tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc người sử dụng đất tuy không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 là một dạng tranh chấp dân sự. Bởi lẽ, khoa học pháp lý nước ta quan niệm quyền sử dụng đất là một loại 10 quyền về tài sản 6 - một loại quyền năng dân sự. Do đó, loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.
Đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không có giấy tờ về đất đai thì Luật đất đai năm 1993, năm 2003 quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Luật đất đai năm 2013 ra đời đã sửa đổi, bổ sung quy định này như sau: Tranh chấp đất đai trong trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì đương sự có quyền lựa chọn Ủy ban nhân dân cấp huyện để giải quyết hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân. Thứ tư, trên thực tế, đất đai được sử dụng vào các mục đích khác nhau. Quan hệ đất đai liên quan đến lợi ích của nhiều đối tượng trong xã hội gồm Nhà nước, cộng đồng dân cư, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cơ sở tôn giáo; tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam.
Do đó, tranh chấp đất đai phát sinh không chỉ liên quan đến lợi ích của một bên mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều bên. Vì vậy, tranh chấp đất đai nếu không giải quyết nhanh chóng, dứt điểm, kịp thời thì sẽ gia tăng sự phức tạp. Trong vài năm trở lại đây xuất hiện ngày càng nhiều các vụ tranh chấp đất đai đông người, có tổ chức, kéo dài và nếu bị kẻ xấu lợi dụng lôi kéo, kích động, xúi giục thì dễ trở thành "điểm nóng" tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Hơn nữa, do tính chất phức tạp của nguồn gốc sử dụng đất cũng như sự xáo trộn của quan hệ đất đai qua các thời kỳ nên tranh chấp đất đai là một loại tranh chấp có tính chất gay gắt, phức tạp nhất.
Trên thực tế, việc giải quyết tranh chấp đất đai gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp; đặc biệt là các tranh chấp đất tôn giáo, tranh chấp về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất v. QuyÒn sö dông ®Êt lµ mét lo¹i quyÒn d©n sù v×: (i) Hé gia ®×nh, c¸ nh©n sö dông ®Êt lµ chñ thÓ cña quan hÖ ph¸p luËt d©n sù; (ii) Quan hÖ ®Êt ®ai lµ quan hÖ tµi s¶n thuéc ®èi t- îng ®iÒu chØnh cña ph¸p luËt d©n sù; (iii) Ngêi sö dông ®Êt cã mét sè quyÒn n¨ng cã tÝnh chÊt ®Þnh ®o¹t ®èi víi quyÒn sö dông ®Êt nh quyÒn chuyÓn nhîng quyÒn sö dông ®Êt, quyÒn cho thuª quyÒn sö dông ®Êt, quyÒn ®Ó thõa kÕ quyÒn sö dông ®Êt, quyÒn tÆng cho quyÒn sö dông ®Êt … 11 Thứ năm, quan hệ đất đai có liên quan đến nhiều quan hệ xã hội khác thuộc đối tượng, phạm vi điều chỉnh của một số đạo luật như Bộ luật dân sự, Luật xây dựng, Luật nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản v. Trên thực tế tranh chấp đất đai xảy ra liên quan đến nhà ở, công trình xây dựng, cây cối và vật kiến trúc khác v. Nên khi giải quyết tranh chấp đất đai, cơ quan nhà nước có thẩm quyền không chỉ áp dụng Luật đất đai mà còn áp dụng các đạo luật khác có liên quan để xem xét, giải quyết.
Hậu quả của tranh chấp đất đai Trên thực tế tranh chấp đất đai để lại những hậu quả rất nặng nề và được biểu hiện trên các khía cạnh cơ bản sau đây: Thứ nhất, tranh chấp đất đai phá vỡ sự vận hành của trật tự quản lý và sử dụng đất đai đã được xác lập.