Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bang trên dia bàn thành phố Sầm Son. Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng của thành phố Sầm Sơn. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CƠ BAN VE THỰC HIỆN PHÁP LUAT TRONG CONG TAC THU HOI DAT, BOI THƯỜNG, HO TRỢ, TAI DINH CU VA GIAI PHONG MAT BANG 1.
Những khái niệm cơ bản về thu hồi dat, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư va giải phóng mặt bằng Van đề thu hồi đất (THD), bồi thường (BT), hỗ trợ (HT), tái định cư (TDC) và giải phóng mặt bằng (GPMB) là hết sức phức tạp, bởi nó ảnh hưởng rat lớn và trực tiếp đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, tập quán, tâm linh, đặc biệt là quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Xây dựng khái niệm là yếu tố tiên quyết để tạo lập cơ sở lý luận trong khoa học pháp lý. Do đó, khi nghiên cứu về thực hiện pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, trước hết, chúng ta phải làm rõ các khái niệm liên quan. Khái niệm thu hồi dat Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về thu hồi đất khác nhau.
Tuy nhiên, thu hồi đất được định nghĩa trong Luật đất đai như sau: Luật đất đai năm 2003 quy định: “Thu hôi dat là việc nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyên sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định nhằm phục vụ phát triển KT-XH và lợi ích an ninh quốc gia ”[9]. Luật đất đai năm 2013 quy định về khái niệm thu hồi đất như sau: “Nhà ước thu hôi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyên sử dụng đất hoặc thu lại đất của người su dụng đất vi phạm pháp luật về dat đai ”[10]. Từ những khái niệm trên, cho thấy thu hồi đất có những đặc điểm sau: Thứ nhất, thu hồi đất là một trong những phương thức của Nhà nước để thực hiện quyền đại diện chủ hữu về đất đai được pháp luật đất đai quy định. Nhà nước không phải là chủ sở hữu dat đai mà chỉ là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai.
Pháp luật quy định quyền đại diện chủ sở hữu đất đai của Nhà nước. Vì vậy, Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất phải tuân theo các quy định của pháp luật. Thứ hai, thu hồi đất được thực hiện thông qua một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thâm quyền có tên gọi là quyết định thu hồi đất, trong đó xác định rõ chủ thé bị thu hỏi, ly do bị thu hồi, mục đích thu hồi và diện tích dat bị thu hồi. Quyết định này là căn cứ pháp ly cham dứt quan hệ pháp luật đất đai giữa Nhà nước và người sử dụng đất.
Thứ ba, thu hồi đất không chỉ châm dứt quyền sử dụng đất của tô chức, hộ gia đình, cá nhân với một mảnh dat nhất định mà còn gây ra những hậu quả xã hội như cuộc sống sinh hoạt và sản xuất của họ bị đảo lộn, rơi vào hoàn cảnh không có nghề nghiệp hoặc không có chỗ ở. Thứ tư, thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu Nhà nước và xã hội như dé sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế-xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng; hoặc dé dé xử lí các hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng hay do hết thời hạn sử dụng đất, người sử dụng đất trả lại đất. Khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Theo từ dién thông dụng thì bồi thường được hiểu là: “Dén bù những tổn hại đã gây ra”[31]. Riêng lĩnh vực đất đai, thuật ngữ “Đổi thuong” khi Nhà nước thu hồi đất (trước đây là bồi thường thiệt hại hay đền bù thiệt hai) được ghi nhận từ rat sớm tại nghị định 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội Đồng Chính phủ quy định thé lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đắt, tại Chương II đã đề cập đến việc “bổi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng”.
Tiếp theo, Luật đất đai năm 1987 ra đời, cùng với đó là sự ra đời của các văn bản hướng dẫn thi hành, lúc này thuật ngữ “bôi thường ” đã bị thay thế bởi thuật ngữ “đền bù”. Sau đó thuật ngữ “dén bù thiệt hai” lại được tiếp tục sử dụng trong Luật dat đai năm 1993, luật sửa đôi bé sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, thuật ngữ “bồi thường” lại được sử dụng trở lại trong Luật đất đai năm 2003. Theo Khoản 6 Điều 4 Luật đất đai năm 2003 và Điều 3 Luật đất đai 2013 đưa ra cách giải thích khái niệm này như sau “Boi thường khi Nhà nước thu hoi đất là việc nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng dat đối với diện tích đất bị thu hồi cho người thu hôi dat”.
Đặc biệt, theo quy định mới của Luật Dat đai 2013 việc xác định mức bồi 10 thường cho người có đất bị thu hồi với sử dụng có thời hạn không chỉ căn cứ vào loại đất, đối tượng sử dụng đất mà còn căn cứ vao thời han sử dụng đất còn lại của người sử dụng vào loại đất đó. So với theo Luật đất đai 2003 thì chưa căn cứ vào thời hạn sử dụng đất còn lại. Khái niệm hỗ trợ và tái định cư 1.1 Khái niệm hỗ trợ khi thu hoi đất Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đảo tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới[9]. Theo đó, để cụ thé hơn về các khoản hỗ trợ, Nghị định 86 197/2004/NĐ-CP, ban hành ngày 03 tháng 12 năm 2004, quy định các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất gồm: - H6 tro di chuyén; - Hỗ trợ ồn định đời sống va ồn định sản xuất; - Hỗ trợ chuyên đôi nghề nghiệp và tạo việc làm; - Hỗ trợ người đang thuê nhà không thuộc sở hữu Nha nước; - Hỗ trợ khi thu hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn; - Hỗ trợ khác.
Ngoài ra, để chính sách hỗ trợ cho người dân được cụ thé và bao quat hon, Luật đất dai 2013 đã được đưa ra khái niệm như sau: “H6 tro khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển ”[10]. Trong đó, điểm đổi mới của ND 47/2014/NĐ-CP, ban hành ngày 15 tháng 5 năm 2014 so với ND 197/2004/NĐ-CP là đã tách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp va tạo việc làm thành 2 điều riêng biệt (điều 20 và điều 21) tùy theo Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp hay thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà có những quy định cụ thé. Và nghị định này còn bé sung thêm về hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyên chỗ ở. “Boi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hoi đất déu là hậu quả pháp lí trực tiếp 11 do hành vi thu hôi đất của Nhà nước gây ra.
Có thé cho rằng bồi thường là chế định pháp luật độc lập và hệ quả tắt yếu của việc thu hồi đất; còn hỗ trợ được xem như biện pháp bồ sung và là sự “kéo dài” của quá trình bồi thường, đóng vai trò khoả lấp khoảng trồng mà các quy định về bôi thường chưa giải quyết được, nhằm bù đắp một cách thỏa đáng những thiệt hại do bị Nhà nước thu hôi đất gây ra. Bởi vì, khi Nhà nước thu hồi đất, mặc dù đối tượng bị thu hôi chỉ là một diện tích đất song thiệt hại đối với người dân không chỉ nằm ở đó. Ngoài các thiệt hại hữu hình về giá trị quyên sử dụng dat, công trình xây dựng, cây trong vật nuôi còn các thiệt hại vô hình khác như mắt ổn định cuộc sống, mat chỗ ở, mat tư liệu sản xuất, phải học nghề mới, bị thiệt hại về tỉnh thân. Việc thu hồi đất gây ra vô số những hệ quả, nhất là đối với đời sống, sinh hoạt, làm việc của nhân dân.
Nước ta vốn là một nước nông nghiệp, “miếng cơm, manh do” của người nông dân déu trông chờ vào hạt lúa trên đồng, trông mong vào từng tac đất. Chính vì vậy, có rất nhiều người dân sau khi bị thu hồi dat, mặc dù đã được bồi thường theo đúng chính sách của nhà nước. Tuy nhiên họ lại không biết tương lai họ làm gì để sinh sống vì cả đời họ chỉ biết làm ruộng, làm đồng. Nhằm bù đắp những tốn thất và giúp đỡ những người bị thu hồi đất vượt qua khó khăn từ việc thu hồi đất, nhanh chóng 6n định về đời sống sản xuất; Nhà nước đã quy định và tô chức thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ cho người bị thu hồi đất.
Theo Khoản 14 Điều 4 Luật đất đai năm 2013 quy định: “H6 trợ khi Nhà nước thu hôi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất bị thu hồi ”. Khái niệm tái định cư khi nhà nước thu hoi dat: Theo quan điểm của các nghiên cứu khoa học về định cư và tái định cư, khái niệm về tái định cư được hiểu là việc lập cư tại một chỗ ở mới cho một cộng đồng đã định cư ở một nơi khác. Trong trường hợp cộng du cư chuyên sang sông cô định thì người ta sử dụng thuật ngữ định cư. Tái định cư có 2 dạng: Tái định cư tại chỗ, tái định cư không tại chỗ.
Theo Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành lại không đưa khái niệm về tái định cư. Theo Khoản 2 Điều 86 Luật dat dai năm 2013: “Người có dat thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái 12 định cư hoặc có điêu kiện bố trí tái định cư.