Tổng quan nghiên cứu

Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam được khởi xướng từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Khóa VII vào tháng 11 năm 1991. Trải qua hơn 15 năm thực hiện sắp xếp lại khối kinh tế công, hoạt động chuyển đổi sở hữu đã tạo ra bước ngoặt lớn cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, việc chuyển dịch mô hình doanh nghiệp đã làm phát sinh xung đột gay gắt giữa mục tiêu tối ưu hóa hiệu quả tài chính và yêu cầu bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Điển hình tại thành phố Hồ Chí Minh, quá trình cổ phần hóa 149 doanh nghiệp với tổng số 43.000 lao động đã làm phát sinh tới 3.169 lao động dôi dư, tiêu tốn gần 89,5 tỷ đồng từ nguồn ngân sách để hỗ trợ chế độ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là đánh giá toàn diện sự tương thích giữa hệ thống quy phạm pháp luật lao động, pháp luật doanh nghiệp với thực tiễn thực hiện chế độ đối với người lao động trong quá trình cổ phần hóa. Mục tiêu cụ thể là làm sáng tỏ bản chất pháp lý của việc bảo đảm quyền lợi người lao động, chỉ ra những khoảng trống chính sách về giá bán cổ phần ưu đãi, thang bảng lương, bảo hiểm xã hội và cơ chế giải quyết lao động dôi dư.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào khung pháp lý và thực tiễn cổ phần hóa tại các trung tâm kinh tế trọng điểm như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2012. Nghiên cứu mang ý nghĩa sâu sắc trong việc cung cấp các luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ tranh chấp lao động, duy trì tỷ lệ nắm giữ cổ phần thực chất của người lao động trên mức 5%, đồng thời bảo đảm hài hòa ba lợi ích then chốt: Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về tái sản xuất sức lao động và giá trị sức lao động trong nền kinh tế thị trường, khẳng định tiền lương phải bù đắp đủ chi phí sinh hoạt của bản thân người lao động và gia đình, đồng thời tạo điều kiện tích lũy để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết quản trị sở hữu của người lao động (chương trình ESOP) và lý thuyết đa dạng hóa sở hữu trong quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế.

Hệ thống khái niệm then chốt được phân tích bao gồm:

  1. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (quá trình chuyển đổi từ hình thức một chủ sở hữu nhà nước sang hình thức đa sở hữu thông qua phát hành cổ phần);
  2. Lao động dôi dư (phân định rõ giữa dôi dư thực tế do thu hẹp quy mô hoặc giải thể và dôi dư tiềm tàng do cơ chế bao cấp trước đây);
  3. Quyền mua cổ phần ưu đãi (cơ chế phân phối cổ phần giảm giá 40% cho người lao động theo thâm niên làm việc và hạn mức mua thêm từ 200 đến 500 cổ phần cho mỗi năm cam kết gắn bó, tối đa từ 2.000 đến 5.000 cổ phần cho mỗi cá nhân theo Nghị định 59/2011/NĐ-CP);
  4. Chế độ dân chủ cơ sở tại doanh nghiệp cổ phần hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định như Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995 và 2003, Luật Doanh nghiệp 2005, Nghị định 59/2011/NĐ-CP, Nghị định 205/2004/NĐ-CP, Nghị định 87/2007/NĐ-CP, Nghị định 70/2011/NĐ-CP, cùng các báo cáo chuyên đề của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh.

Về quy mô và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu điển hình và định ngạch trên tập dữ liệu gồm 149 doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa với quy mô 43.000 lao động tại địa bàn đô thị lớn, kết hợp số liệu từ các doanh nghiệp ngành dệt may, giày da, cao su và dịch vụ thương mại. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các loại hình chuyển đổi phổ biến.

Luận văn kết hợp phương pháp phân tích luật học thực định, phương pháp duy vật biện chứng, thống kê mô tả và phương pháp so sánh luật học (đối chiếu với kinh nghiệm xử lý 8,8% lao động dôi dư tương đương 6,3 triệu người trong khu vực công của Trung Quốc). Trục thời gian nghiên cứu kéo dài xuyên suốt hơn hai thập kỷ từ năm 1991 đến năm 2012, phản ánh đầy đủ chu kỳ hoàn thiện thể chế kinh tế Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp tạo ra áp lực cắt giảm nhân sự rất lớn. Sau khi chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, nhiều doanh nghiệp đã cắt giảm từ 15% đến 20% tổng số lao động nhằm cơ cấu lại bộ máy và đổi mới công nghệ (theo dữ liệu công bố trên Tạp chí Cộng sản số 105 năm 2006). Tại thành phố Hồ Chí Minh, 149 doanh nghiệp cổ phần hóa ghi nhận 3.169 trường hợp dôi dư phải chi trả trợ cấp gần 89,5 tỷ đồng; đặc biệt ở các đơn vị chuyển đổi từ sản xuất sang thương mại - dịch vụ, tỷ lệ người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động lên tới gần 100%.

Thứ hai, chính sách phân phối cổ phần ưu đãi xuất hiện nhiều bất cập, dẫn đến hiện tượng bán non cổ phần. Mặc dù Nghị định 59/2011/NĐ-CP đã hạ giá bán xuống mức 60% giá đấu thành công thấp nhất, nhưng mức lương bình quân 4.000.000 đồng/người/tháng tại các doanh nghiệp nhà nước ở khu vực công nghiệp như Đồng Nai khiến phần lớn công nhân không đủ khả năng tài chính để thực hiện quyền mua. Hệ quả là tỷ lệ nắm giữ cổ phần thực tế của người lao động suy giảm nghiêm trọng: tại Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) chỉ còn khoảng 5% đến 6% người lao động giữ được cổ phần, tại Công ty Sản xuất và Thương mại Như Ngọc tỷ lệ này dưới 4,5%, Công ty Cao su Bến Thành đạt 1,6%, và Chi nhánh SJC Nha Trang chỉ ở mức 0,32%. Sự sụt giảm 70% của chỉ số thị trường chứng khoán vào năm 2008 càng đẩy người lao động vay vốn ngân hàng mua cổ phần vào cảnh thua lỗ nặng nề.

Thứ ba, sự phân hóa thu nhập diễn ra gay gắt khi doanh nghiệp lạm dụng quyền tự chủ. Mức lương tối thiểu vùng I theo Nghị định 70/2011/NĐ-CP chỉ đạt 2.000.000 đồng/tháng và lương tối thiểu chung theo Nghị định 31/2012/NĐ-CP là 1.050.000 đồng/tháng. Trong khi công nhân nhận thu nhập từ 6 đến 7 triệu đồng/tháng, nhiều cán bộ quản lý tự xây dựng mức lương lên tới hàng trăm triệu đồng/tháng, gây bất bình đẳng sâu sắc.

Sự biến động tỷ lệ sở hữu và tình trạng phân hóa quyền lợi có thể được mô hình hóa qua bảng thống kê và biểu đồ cột so sánh giữa tỷ lệ cổ phần phân bổ trên lý thuyết (tối đa 100 cổ phần/năm thâm niên) so với tỷ lệ nắm giữ thực tế còn lại dưới 5% sau 3 đến 5 năm chuyển đổi tại các doanh nghiệp khảo sát.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ tư duy bao cấp kéo dài, thói quen tuyển dụng biên chế tràn lan trước đây làm tích tụ lượng lớn lao động dôi dư tiềm tàng. Khi bước vào cơ chế thị trường, nhóm lao động phổ thông chưa qua đào tạo bị đào thải nhanh chóng. Thêm vào đó, việc xác định giá trị doanh nghiệp bị hạ thấp tạo cơ hội cho nhóm quản lý móc ngoặc thâu tóm cổ phần chi phối, biến tài sản nhà nước thành tài sản cá nhân.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế trong khu vực chuyển đổi, Việt Nam có sự tương đồng về quy mô dôi dư nhưng lại thiếu các quỹ tái đào tạo nghề chuyên biệt. Ý nghĩa thực tiễn của phát hiện cho thấy Nghị định 87/2007/NĐ-CP về dân chủ cơ sở còn mang tính hình thức; tổ chức công đoàn cơ sở còn phụ thuộc vào người sử dụng lao động, chưa thể hiện được vai trò đối trọng độc lập trong thương lượng thỏa ước lao động tập thể.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách bán cổ phần ưu đãi cho người lao động. Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng Nhà nước thiết lập gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ vay vốn từ 50% đến 70% giá trị cổ phần ưu đãi với lãi suất thấp, thời hạn vay từ 3 đến 5 năm. Đồng thời, cần bãi bỏ hạn mức khống chế trần mua thêm (2.000 cổ phần cho lao động thường và 5.000 cổ phần cho chuyên gia giỏi) để tạo điều kiện cho những nhân sự có năng lực tài chính gắn bó lâu dài, hoàn thành trước quý IV năm 2014.

Thứ hai, cải cách toàn diện cơ chế tiền lương và thang bảng lương. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần sớm thay thế khung thang bảng lương xơ cứng của Nghị định 205/2004/NĐ-CP bằng hệ thống trả lương theo vị trí việc làm và hiệu quả công việc (3P). Đồng thời, quy định biên độ chênh lệch tiền lương giữa lãnh đạo và người lao động trực tiếp không vượt quá 10 đến 15 lần, kết hợp điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng I tăng trên 2.500.000 đồng/tháng để bù đắp chỉ số lạm phát.

Thứ ba, thành lập Quỹ hỗ trợ đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm cho lao động dôi dư. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cùng Ban chỉ đạo cổ phần hóa trích tối thiểu 10% nguồn thu từ bán vốn nhà nước để tài trợ cho các khóa đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp kéo dài từ 6 đến 12 tháng, đặt mục tiêu kéo giảm tỷ lệ thất nghiệp dôi dư sau cổ phần hóa xuống dưới 5%.

Thứ tư, tăng cường quyền hạn và tính độc lập của tổ chức công đoàn cơ sở. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cần ban hành quy chế giám sát bắt buộc 100% doanh nghiệp cổ phần hóa phải công khai toàn bộ phương án tài chính, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi và danh sách phân bổ lao động trước khi đại hội cổ đông lần đầu diễn ra ít nhất 30 ngày.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và ban soạn thảo chính sách thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính có thể sử dụng các số liệu thực chứng từ 149 doanh nghiệp khảo sát để rà soát, sửa đổi các nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động và quy định về thoái vốn nhà nước.

Nhóm lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước và ban chỉ đạo cổ phần hóa tại các địa phương áp dụng luận văn như một cẩm nang xây dựng phương án sử dụng lao động, thiết kế chương trình ESOP và lộ trình chi trả trợ cấp mất việc bảo đảm tuân thủ đúng 100% quy định pháp luật.

Nhóm cán bộ công đoàn và đại diện tập thể người lao động sử dụng các cơ sở pháp lý trong luận văn để nâng cao năng lực thương lượng thỏa ước lao động tập thể, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho 15% đến 20% nhân sự đứng trước nguy cơ bị cắt giảm.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Lao động khai thác khung phân tích lý luận, phương pháp khảo sát và hệ thống dữ liệu so sánh làm tài liệu học thuật giá trị cho các công trình nghiên cứu tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

Người lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa được hưởng những ưu đãi cụ thể nào khi mua cổ phần? Theo quy định tại Điều 48 Nghị định 59/2011/NĐ-CP, người lao động trong danh sách thường xuyên được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm làm việc tại khu vực nhà nước với giá bán bằng 60% giá đấu thành công thấp nhất. Nếu cam kết làm việc tiếp tối thiểu 3 năm, họ được mua thêm 200 cổ phần/năm cam kết (tối đa 2.000 cổ phần), riêng chuyên gia giỏi được mua thêm 500 cổ phần/năm (tối đa 5.000 cổ phần).

Tại sao xuất hiện tình trạng phần lớn công nhân bán non cổ phần ưu đãi ngay sau khi cổ phần hóa? Nguyên nhân chủ yếu do mức thu nhập bình quân khoảng 4.000.000 đồng/tháng không đủ trang trải sinh hoạt và trả nợ vay ngân hàng khi mua cổ phiếu. Thêm vào đó, sự sụt giảm 70% của thị trường chứng khoán vào năm 2008 khiến giá cổ phiếu giảm sâu dưới mệnh giá, buộc khoảng 90% đến 95% công nhân tại các đơn vị như Vinamilk, Như Ngọc phải chuyển nhượng lại để bảo toàn vốn.

Nguồn kinh phí chi trả chế độ cho người lao động dôi dư trong quá trình cổ phần hóa được lấy từ đâu? Kinh phí hỗ trợ lao động dôi dư được trích từ Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp cùng nguồn thu từ bán cổ phần thuộc sở hữu nhà nước. Như tại thành phố Hồ Chí Minh, tổng kinh phí chi trả thực tế cho 3.169 lao động dôi dư đã đạt gần 89,5 tỷ đồng, bảo đảm thanh toán đầy đủ các khoản trợ cấp thôi việc, mất việc và chế độ hưu trí trước tuổi.

Chế độ dân chủ tại nơi làm việc được quy định như thế nào để bảo vệ quyền lợi của người lao động? Theo Nghị định 87/2007/NĐ-CP, người quản lý công ty cổ phần bắt buộc phải công khai 5 nhóm nội dung trọng yếu gồm quy chế tiền lương, định mức lao động, trích lập quỹ khen thưởng - phúc lợi, đóng bảo hiểm xã hội và báo cáo tài chính hàng năm thông qua hội nghị người lao động hoặc hệ thống thông tin nội bộ.

Doanh nghiệp sau cổ phần hóa áp dụng thang bảng lương theo nguyên tắc nào? Doanh nghiệp có quyền tự chủ xây dựng hệ thống lương nhưng phải tuân thủ mức lương tối thiểu vùng (ví dụ vùng I đạt 2.000.000 đồng/tháng theo Nghị định 70/2011/NĐ-CP) và mức lương trả cho lao động qua đào tạo phải cao hơn ít nhất 7% so với mức tối thiểu vùng, đồng thời đăng ký hệ thống thang bảng lương với cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về bảo vệ quyền lợi người lao động trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam.
  • Đánh giá thực trạng 149 doanh nghiệp chuyển đổi tại đô thị lớn, làm rõ bài toán giải quyết chế độ cho 3.169 lao động dôi dư với tổng kinh phí gần 89,5 tỷ đồng.
  • Chỉ rõ bất cập của chính sách ESOP khi tỷ lệ nắm giữ cổ phần thực tế của công nhân tại nhiều doanh nghiệp lớn suy giảm xuống dưới 5%.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá về tín dụng mua cổ phần, đổi mới thang bảng lương 3P, thành lập quỹ đào tạo nghề và nâng cao quyền hạn của tổ chức công đoàn.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho lộ trình hoàn thiện pháp luật giai đoạn 2013-2015, thúc đẩy sự phát triển bền vững và công bằng xã hội.

Quý độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để cùng thảo luận và đóng góp giải pháp hoàn thiện thể chế lao động trong nền kinh tế thị trường.