Tổng quan nghiên cứu

Quá trình xây dựng đời sống văn hóa cơ sở luôn giữ vai trò then chốt trong chiến lược phát triển bền vững của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại huyện Lương Tài, một vùng đất giàu truyền thống hiếu học nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Ninh với diện tích tự nhiên 10.566,57 ha và quy mô dân số 98.560 người, việc tái lập huyện theo Nghị định số 68/1999/NĐ-CP vào năm 1999 đã mở ra giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ khi tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 43,96% năm 2008 xuống 19,62% năm 2013 và công nghiệp - xây dựng tăng lên 41,64% đã tạo ra nhiều tác động đa chiều. Bên cạnh sự cải thiện về thu nhập bình quân đầu người đạt 25,3 triệu đồng vào năm 2013, địa phương phải đối mặt với nguy cơ xói mòn các chuẩn mực đạo đức, xuất hiện lối sống thực dụng và xu hướng thương mại hóa lễ hội dân gian.

Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Lương Tài đối với nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa trong giai đoạn 15 năm (1998 - 2013). Mục tiêu trọng tâm là hệ thống hóa các chủ trương của Trung ương, của Tỉnh ủy Bắc Ninh, tái hiện sinh động các phong trào hành động tại 13 xã và 01 thị trấn, đánh giá những thành tựu cùng hạn chế, từ đó đúc kết 5 bài học kinh nghiệm sâu sắc. Ý nghĩa nghiên cứu được thể hiện rõ nét qua việc chuẩn hóa hệ thống dữ liệu lịch sử với hơn 269 lượt làng văn hóa được công nhận, hơn 130 lượt công sở văn hóa và duy trì tỷ lệ trên 44% hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa hằng năm, cung cấp cơ sở khoa học xác đáng cho việc hoạch định chính sách văn hóa nông thôn hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng và luận điểm văn hóa soi đường cho quốc dân đi. Đồng thời, khung phân tích bám sát hệ thống quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam qua Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII năm 1998, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Luận văn vận dụng đồng bộ 4 khái niệm cốt lõi: đời sống văn hóa cơ sở, môi trường văn hóa lành mạnh, thiết chế văn hóa cộng đồng và nếp sống văn minh theo tinh thần Chỉ thị số 27-CT/TW của Bộ Chính trị.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của công trình bao gồm hơn 50 văn kiện, nghị quyết, báo cáo lưu trữ chính thức tại Huyện ủy và Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Lương Tài, kết hợp các số liệu thống kê chính xác từ Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1998 - 2013. Luận văn thực hiện khảo sát trên cỡ mẫu toàn diện gồm 14/14 đơn vị hành chính cấp xã (13 xã và 01 thị trấn Thứa) cùng 102 thôn, làng bằng phương pháp chọn mẫu toàn bộ (comprehensive sampling), kết hợp khảo sát điền dã và phỏng vấn sâu nhân chứng lịch sử tại các cụm di tích tiêu biểu như Đình Ngọc Quan, Đình Đạo Sử và Đền thờ Hàn Thuyên.

Phương pháp lịch sử và logic được lựa chọn làm công cụ phân tích chủ đạo, kết hợp chặt chẽ với phương pháp thống kê, so sánh liên thời gian giữa 2 giai đoạn 1998 - 2005 và 2006 - 2013. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, tái hiện chân thực tiến trình lịch sử, đồng thời lượng hóa chính xác hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ huyện qua các chỉ số phát triển văn hóa - xã hội cụ thể. Toàn bộ quá trình thu thập tài liệu, phân tích và xử lý dữ liệu được hoàn thành trong khung thời gian nghiên cứu kéo dài 24 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Đảng bộ huyện Lương Tài đã thể hiện năng lực quán triệt và chỉ đạo xuất sắc các chủ trương của Đảng. Huyện ủy đã tổ chức thành công 16 lớp học tập Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII với tỷ lệ cán bộ chủ chốt tham gia đạt 97%, cán bộ công chức đạt 95,6% và đoàn viên hội viên đạt trên 82%. Toàn bộ 14 xã, thị trấn và 102 thôn đều thành lập Ban Chỉ đạo Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, tạo cơ chế điều hành thống nhất từ huyện đến tận cơ sở.

Thứ hai, phong trào xây dựng nếp sống văn hóa ghi nhận những bước chuyển biến vượt bậc. Trong giai đoạn 2000 - 2005, toàn huyện có 269 lượt làng được công nhận danh hiệu làng văn hóa, trong đó có 72 lượt làng đạt chuẩn cấp tỉnh. Khối cơ quan, đơn vị ghi nhận 130 lượt công sở văn hóa, trong khi số hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa duy trì bình quân trên 11.000 hộ mỗi năm, chiếm tỷ lệ 44% tổng số hộ dân toàn huyện.

Thứ ba, sự nghiệp giáo dục và hoàn thiện thiết chế văn hóa đạt được nhiều chỉ tiêu vượt mức. Đến năm 2005, tỷ lệ trẻ mẫu giáo đến trường đạt 96,4%, tiểu học đạt 99,9%, tỷ lệ lên lớp các cấp đạt trên 97% và huyện hoàn thành phổ cập trung học cơ sở từ năm 2003. Toàn huyện đã khảo sát và lập hồ sơ xếp hạng thành công 44 di tích lịch sử văn hóa, bao gồm 12 di tích cấp quốc gia và 32 di tích cấp tỉnh, đồng thời xây dựng hệ thống nhà văn hóa xã có quy mô 100 - 250 chỗ ngồi tại 100% địa bàn.

Thứ tư, chính sách an sinh xã hội được gắn chặt với phong trào văn hóa. Quỹ Ngày vì người nghèo đã vận động được 420 triệu đồng, hỗ trợ xây mới 99 ngôi nhà tình nghĩa và đại đoàn kết, trao tặng 1.842 sổ tiết kiệm tình nghĩa với tổng trị giá 225 triệu đồng, giúp Lương Tài hoàn thành mục tiêu xóa 100% nhà tranh tre tạm bợ vào năm 2005.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản giúp Đảng bộ huyện Lương Tài gặt hái những kết quả nổi bật là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ trương đổi mới của Trung ương với truyền thống hiếu học lâu đời của quê hương, nơi từng sản sinh ra 53 vị đỗ đại khoa trong lịch sử phong kiến. Khi phân tích tương quan phát triển, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột chồng kết hợp đường xu hướng, minh họa sự tăng trưởng kinh tế bình quân 12,6% cùng chiều với tốc độ gia tăng số lượng làng văn hóa và gia đình văn hóa qua các năm. Bảng thống kê so sánh cũng làm rõ sự chuyển dịch việc làm khi tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt 13,5%, tạo tiền đề nâng cao chất lượng hưởng thụ văn hóa tinh thần.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế đáng chú ý. Hoạt động tuyên truyền tại một số chi bộ còn mang tính hình thức, tình trạng thương mại hóa lễ hội và mê tín dị đoan vẫn tiềm ẩn. Đáng lưu ý, hơn 80% cán bộ văn hóa cấp cơ sở phải làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, chưa qua đào tạo chuyên sâu về quản lý văn hóa - thể thao, dẫn đến việc thiếu hụt các mô hình sinh hoạt cộng đồng mang tính bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ quản lý văn hóa cơ sở. Ủy ban nhân dân huyện Lương Tài cần chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh xây dựng kế hoạch đào tạo chuyên ngành cho 100% công chức văn hóa xã, thị trấn, phấn đấu đến năm 2020 toàn bộ cán bộ văn hóa đạt chuẩn trình độ đại học hoặc cao đẳng chuyên nghiệp, giảm tỷ lệ kiêm nhiệm xuống dưới 20%.

Thứ hai, đẩy mạnh cơ chế xã hội hóa để hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa thôn xóm. Cấp ủy và chính quyền các xã cần áp dụng linh hoạt phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, đặt mục tiêu giai đoạn 2016 - 2020 có 100% thôn, khu dân cư sở hữu nhà văn hóa độc lập với diện tích tối thiểu 150 m2, trong đó nguồn vốn xã hội hóa từ các doanh nghiệp và con em xa quê đóng góp đạt từ 30% đến 40% tổng mức đầu tư.

Thứ ba, tăng cường công tác thanh tra, giám sát thực hiện nếp sống văn minh. Ban Chỉ đạo phong trào huyện cần duy trì các đoàn kiểm tra liên ngành định kỳ hằng quý nhằm xóa bỏ triệt để hủ tục thách cưới, ăn uống linh đình trong việc tang tại 14 xã, thị trấn, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tài chính công đức tại hơn 40 lễ hội truyền thống lớn nhỏ trên địa bàn.

Thứ tư, gắn kết chặt chẽ tiêu chí văn hóa với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện cần ban hành nghị quyết chuyên đề về nâng cao chất lượng tiêu chí văn hóa nông thôn mới, hướng tới mục tiêu duy trì bền vững trên 85% gia đình văn hóa và trên 80% làng văn hóa đạt chuẩn giai đoạn 2015 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền và công chức văn hóa cấp huyện, xã. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn về quy trình tổ chức, lãnh đạo phong trào xây dựng đời sống văn hóa tại 14 đơn vị hành chính cấp xã, giúp vận dụng hiệu quả các mô hình tự quản và huy động sức dân.

Thứ hai, các nhà nghiên cứu, giảng viên chuyên ngành Lịch sử Đảng và Văn hóa học. Tài liệu là nguồn tư liệu thực chứng phong phú, hệ thống hóa đầy đủ dữ liệu lịch sử 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII ở cấp cơ sở, phục vụ công tác giảng dạy và biên soạn lịch sử địa phương.

Thứ ba, học viên cao học và sinh viên các khối ngành khoa học xã hội và nhân văn. Công trình là bài mẫu điển hình về việc ứng dụng phương pháp luận lịch sử kết hợp với thống kê định lượng, khảo sát điền dã tại 102 thôn làng để giải quyết một đề tài lịch sử Đảng bộ địa phương.

Thứ tư, Ban Chỉ đạo phong trào văn hóa tại các huyện thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng. Các địa phương có đặc điểm tương đồng về nông nghiệp và truyền thống văn hiến có thể học hỏi bài học kinh nghiệm trong việc cân bằng giữa phát triển công nghiệp với bảo tồn 44 di tích lịch sử văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

Văn bản nào giữ vai trò kim chỉ nam trong sự chỉ đạo văn hóa của Đảng bộ huyện Lương Tài giai đoạn 1998 - 2013? Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII ban hành năm 1998 và Chương trình số 17-CT/TU của Tỉnh ủy Bắc Ninh là hai văn bản cốt lõi định hình đường lối. Ngoài ra, Chỉ thị 27-CT/TW về nếp sống văn minh và Nghị quyết 03-NQ/TU của Tỉnh ủy năm 2001 về phát triển làng văn hóa trực tiếp dẫn dắt các hành động cụ thể tại huyện.

Cơ cấu kinh tế của huyện Lương Tài biến đổi ra sao trong giai đoạn nghiên cứu? Kinh tế huyện chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa. Tỷ trọng nông nghiệp - thủy sản giảm mạnh từ 43,96% năm 2008 xuống 19,62% năm 2013; công nghiệp - xây dựng tăng từ 24,61% lên 41,64%; thương mại - dịch vụ tăng từ 21,43% lên 38,75%, đưa thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt 25,3 triệu đồng.

Phong trào xây dựng làng văn hóa và gia đình văn hóa giai đoạn 2000 - 2005 đạt kết quả cụ thể như thế nào? Trong 5 năm từ 2000 đến 2005, huyện Lương Tài ghi nhận 269 lượt làng đạt chuẩn làng văn hóa, trong đó có 72 lượt làng văn hóa cấp tỉnh. Toàn huyện cũng có 130 lượt cơ quan đạt danh hiệu công sở văn hóa và duy trì bình quân trên 11.000 hộ gia đình văn hóa mỗi năm, chiếm 44% tổng số hộ.

Hạn chế lớn nhất trong công tác quản lý văn hóa cơ sở tại huyện Lương Tài thời kỳ này là gì? Tồn tại lớn nhất là hơn 80% cán bộ văn hóa cấp xã làm việc theo hình thức kiêm nhiệm, chưa qua đào tạo nghiệp vụ bài bản. Thêm vào đó, việc thực hiện nếp sống văn minh trong cưới hỏi, tang ma tại một số địa phương còn hình thức và tình trạng thương mại hóa lễ hội chưa được xử lý triệt để.

Đảng bộ huyện Lương Tài đã bảo tồn các di sản văn hóa vật thể như thế nào? Huyện ủy đã chỉ đạo rà soát, tôn tạo và lập hồ sơ công nhận 44 di tích lịch sử văn hóa, bao gồm 12 di tích cấp quốc gia và 32 di tích cấp tỉnh như Đình Ngọc Quan, Đình Đạo Sử, Đền thờ Hàn Thuyên. Huyện đã huy động hàng trăm triệu đồng từ nguồn vốn xã hội hóa để tu bổ các công trình này.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định sự chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo và kịp thời của Đảng bộ huyện Lương Tài trong việc vận dụng Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII vào thực tiễn địa phương suốt 15 năm (1998 - 2013).
  • Công trình tái hiện toàn diện những thành tựu nổi bật về xây dựng môi trường văn hóa, chuẩn hóa nếp sống văn minh và hoàn thiện thiết chế tại 14 xã, thị trấn với 269 lượt làng văn hóa được công nhận.
  • Đánh giá khách quan, trung thực những điểm nghẽn về chất lượng đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở và cơ sở vật chất phục vụ sinh hoạt cộng đồng.
  • Tổng kết 5 bài học kinh nghiệm sâu sắc về phát huy vai trò tiên phong của đảng viên, tăng cường kiểm tra giám sát và huy động sức mạnh xã hội hóa trong phát triển văn hóa.
  • Đề xuất định hướng chiến lược nhằm gắn kết xây dựng đời sống văn hóa với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới nâng cao giai đoạn tiếp theo.

Về kế hoạch phát triển nghiên cứu tiếp theo, đề tài mở ra hướng tiếp cận mới trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2025, gắn liền với việc thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý văn hóa hãy khai thác ngay nguồn dữ liệu thực chứng quý giá từ luận văn này để ứng dụng hiệu quả vào công tác quy hoạch, lãnh đạo văn hóa tại địa phương mình.