CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI 1.1 Cơ sở lý luận về nguồn lực thông tin và phát triển nguồn lực thông tin 1.1 Khái niệm nguồn lực thông tin “Nguồn lực thông tin” (information resources) là thuật ngữ chuyên ngành, theo tiến sĩ Lê Văn Viết, cho đến nay, nội hàm của thuật ngữ này vẫn chưa được thống nhất Nguồn lực thông tin là một từ ghép, được cấu thành từ “nguồn lực” và “thông tin” Nguồn lực: Theo nghĩa hẹp, nguồn lực thường được hiểu là các nguồn lực vật chất cho phát triển. Theo nghĩa rộng, nguồn lực được hiểu gồm tất cả những lợi thế, tiềm năng vật chất và phi vật chất để phục vụ cho một mục tiêu phát triển nào đó. Nguồn lực phát triển của một quốc gia được hiểu là khả năng cung cấp các yếu tố cần thiết cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. “Thông tin” theo nghĩa thông thường, là sự phản ánh về một vật, sự vật, hiện tượng hay quá trình nào đó của thế giới tự nhiên, xã hội và con người được tiếp nhận trực tiếp hoặc gián tiếp.
Theo quan điểm của Lý thuyết thông tin: “Thông tin là lượng đo trật tự nhân tạo chống lại sự hỗn độn của tự nhiên” Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng (1996): “Thông tin là tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh” [3] Theo từ điển Triết học (2001): “Thông tin trước hết là những tin tức, tập hợp nhưng tài liệu, những sự hiểu biết nào đó. Lý thuyết thông tin thường gắn bó chặt chẽ với sự phản ánh. Đặc tính phản ánh và nhận thức thế giới xung quanh là một khâu trong sự phát triển của những quá trình liên quan với việc truyền, xử lý thông tin” [4] Như vậy, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thông tin, nhưng cùng nhận thấy rằng: Thông tin là một khái niệm cơ bản của khoa học, là khái niệm trung tâm của xã hội, được xem là nguồn lực của sự phát triển. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Và trong cách hiểu về “nguồn lực thông tin” cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau.
“Có người cho rằng nó tương đương như vốn tài liệu trong các cơ quan thông tin, thư viện. Người khác lại đưa ra quan điểm nguồn lực thông tin không chỉ bao hàm các nguồn lực về tài liệu mà còn gồm các thành phần khác nhau như tài liệu thông tin, nhân lực thông tin … có người lại đồng nghĩa nó với nguồn tin”. “Ở dạng chung nhất, nguồn lực thông tin được hiểu là tổ hợp các thông tin nhận được và tích lũy được trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người, để sử dụng nhiều lần trong sản xuất và quản lý xã hội”[1, tr. “Nguồn lực thông tin” bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước hoặc không theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức và ngành công nghiệp thông tin [2] Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng “ Nguồn lực thông tin là một dạng sản phẩm trí óc, trí tuệ của con người, là phần tiềm lực thông tin có cấu trúc được kiểm soát và có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình sử dụng” “Nguồn lực thông tin” là sản phẩm của trí tuệ con người, là sản phẩm lao động khoa học, phản ánh những kiến thức được kiểm soát, và ghi lại dưới một dạng vật chất nào đó.
Chúng phải được tổ chức, cấu trúc lại để người dùng tin có thể truy cập, tìm kiếm, khai thác và sử dụng được, phục vụ cho nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội.2 Phát triển và quản trị nguồn lực thông tin Hoạt động thông tin - thư viện là quá trình lưu giữ, chọn lọc đánh giá, phân tích, phân phối thông tin chính xác cần thiết theo yêu cầu của NDT bao gồm các công đoạn: thu thập, xử lý phân tích - tổng hợp thông tin ( xử lý hình thức và xử lý nội dung), lưu trữ và bảo quản, tra cứu và phổ biến thông tin. Trong đó, công tác phát triển nguồn tin là giai đoạn đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng bởi nó đóng vai trò quyết định đến chất lượng VTL của thư viện đó. Công tác phát triển nguồn tin hay còn được gọi theo tên khác là công tác bổ sung, công tác phát triển VTL. Bổ sung theo tiếng Latinh là “completes” có nghĩa là trọn bộ, đủ các thành phần của một cái gì đó.
Hiểu theo nghĩa rộng là sưu tập trọn bộ, bổ khuyết và tăng cường tới mức độ đầy đủ. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguồn tin là tập hợp có hệ thống các thông tin được lưu trữ trên các vật mang tin khác nhau, phù hợp với nhiệm vụ, loại hình của thư viện và diện nhu cầu thông tin của NDT, được sử dụng và bảo quản trong suốt thời gian nó còn ý nghĩa. Sách là vật có khả năng lưu trữ thông tin bền và hiệu quả. Nói đến vai trò của sách, theo A.
Ghecxen – nhà văn, nhà dân chủ Nga thế kỷ 19 đã khẳng định: “sách đó là di huấn về thông tin của thế hệ này đối với thế hệ khác…Toàn bộ cuộc sống của loài người đều được phản ánh trong sách”. Đối với thư viện các trường đại học, VTL đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp giáo dục đào tạo của trường. VTL cung cấp cho nguời dùng hệ thống kiến thức từ cơ bản đến chuyên sâu về các ngành đào tạo cũng như những tri thức nhân loại đã được lưu giữ trong kho thư viện. Chất lượng của nguồn tin phụ thuộc vào hiệu quả của công tác phát triển nguồn tin.
Nếu công tác này được thực hiện tốt sẽ tạo lập được bộ sưu tập VTL có giá trị, phục vụ cho nhu cầu học tập và giảng dạy học sinh sinh viên và cán bộ trường. Ngược lại, sẽ làm lãng phí công sức, thời gian và của cải, không thu hút được NDT đến với thư viện.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển và quản trị nguồn lực thông tin - Các quy luật đặc trưng của tài liệu: Dưới tác động của khoa học, công nghệ và truyền thông, tài liệu đã có sự thay đổi mạnh mẽ về quy mô, cơ cấu, tạo nên các quy luật đặc trưng cho tài liệu. Những quy luật này đặc biệt tác động đến nhóm tài liệu khoa học kỹ thuật. + Quy luật gia tăng số lượng tài liệu Nội dung quy luật này nói rằng, số lượng tài liệu gia tăng hàng năm, và thậm chí “cứ trong vòng 12 đến 15 năm, số lượng tài liệu khoa học kỹ thuật tăng lên gấp đôi”, “ mỗi ngày trên thế giới có khoảng 2000 trang tạp chí khoa học kỹ thuật được in ra, mỗi năm có tới 5 triệu bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học xuất bản định kỳ”.
152] Nguyên nhân của hiện tượng này là do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã tạo ra nhiều loại vật mang tin, kỹ thuật ghi chép, phương tiện truyền tin nhanh chóng, hiệu quả, chất lượng. Đồng thời đội ngũ những nhà khoa học và người dùng tin tăng lên nhanh chóng làm cho số lượng tài liệu tăng theo hàm số mũ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Quy luật S. Bradford Quy luật mang tên nhà thư viện học đồng thời là nhà hóa học người Anh. Ông đã phát hiện rằng: Nếu sắp xếp số tạp chí khoa học theo thứ tự giảm dần số bài báo về một chuyên ngành nào đó thì trong danh sách nhận được ta có thể tìm thấy các tạp chí hạt nhân.
Số tạp này không lớn, chỉ chiếm 10-15% số tạp chí, nhưng chứa đựng tới 90% số bài báo liên quan đến ngành đó [5, tr. Đó chính là sự tập trung và tản mạn thông tin. Các đơn vị thư viện muốn xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin hiệu quả cần phải chú ý quy luật này nhằm thu thập được bộ sưu tập các tài liệu có giá trị. + Quy luật lỗi thời của thông tin Tuổi thọ của tài liệu được tính từ khi nó công bố đến khi không được sử dụng nữa.
Mỗi tài liệu có tuổi thọ khác nhau, phụ thuộc lĩnh vực tri thức, giá trị nội dung của tài liệu, tính cập nhật và khả năng tương thích với nhu cầu của người dùng tin. Tài liệu nào có nội dung thường xuyên thay đổi, cập nhật thì tài liệu đó càng nhanh chóng lỗi thời. Ngược lại, khoa học nào càng ổn định thì tuổi thọ của tài liệu lại càng lâu. Tuy nhiên, với nhóm tài liệu quý hiếm hay khảo cổ thì nằm ngoài quy luật này.
+ Quy luật giá cả tăng liên tục Giá của tài liệu phụ thuộc vào 2 yếu tố cơ bản: Lao động trí tuệ và giá vật chất của tài liệu. Người làm khoa học có quyền sở hữu những đứa con tinh thần của mình và được pháp luật bảo hộ. Tuy nhiên, khi thông tin độc chiếm thì người cung cấp thông tin phải ghánh chịu một khoản chi phí để bảo vệ thông tin trong khi chờ bán nó với một giá cao hơn [5, tr. Giá vật chất của tài liệu thường được định giá bằng giá trị của thị trường.
Giá vật chất tăng chủ yếu là do sự phát triển lạm phát của kinh tế, các vật mang tin, phương tiện truyền tin ngày càng hiện đại, ứng dụng nhiều thành tựu khoa học công nghệ. - Chính sách phát triển nguồn tin Chính sách phát triển nguồn tin là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng công tác phát triển nguồn tin của đơn vị. Vì vậy Trung tâm cần xây dựng chính sách phát triển nguồn tin khoa học, phù hợp và bán sát với các nhiệm vụ của nhà trường. Đây được coi là cơ sở phát lý, căn cứ khoa học để Trung tâm chủ động trong chiến lược phát triển nguồn lực thông tin của mình.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Cơ sở vật chất kỹ thuật Đây là yếu tố vật chất hỗ trợ đắc lực để nguồn lực thông tin phát triển. Cơ sở vật chất ở đây không chỉ là bàn ghế, phòng ốc mà còn là hệ thống máy tính, hệ thống mạng, truyền thông…là vật chứa đựng, truyền tải nguồn thông điện điện tử khổng lồ. Vì vậy, đầu tư được cơ sở vật chất vững chắc, hiện đại sẽ giúp cho nguồn lực thông tin phát triển mạnh hợn, đáp ứng nhu cầu tin cho bạn đọc tốt hơn.