mở đầu cuốn “Quảng Ích thư tịch mục lục đại toàn” (広益目録大全』) – một cuốn danh mục sách xuất bản năm 1692 có đoạn miêu tả: “Trong cảnh thái bình, Thánh đức soi rọi tứ hải, tứ dân được lấy việc đọc sách làm niềm vui. Cũng vì thế mà rất nhiều sách được xuất bản hàng năm. Sách chữ Nho thì có thần thư, gia thư, nghệ thư, sách bằng chữ kana thì có ca thư, Thần đạo, Thần Phật, quân thư, âm khúc (âm nhạc bình dân)” [52, tr. Năm 1670 1685 1692 Thể loại Sách về Phật giáo Số bộ phát hành 1677 2493 2799 Tỉ lệ (%) 44.9 Sách học thuật, sách giáo dưỡng Số bộ phát hành 877 1228 1472 Tỉ lệ (%) 22.5 Sách Y học Số bộ phát hành 247 401 405 Tỉ lệ (%) 6.3 Sách viết bằng chữ kana Số bộ phát hành 1025 1812 2456 Tỉ lệ (%) 26.3 Tổng số bộ 3826 5934 7132 Tỉ lệ gia tăng 100 155 186 17 Bảng 1.1: Tình hình xuất bản trong những năm Kanbun – Genroku (1661-1704) Nguồn: [52, tr.235] Từ đó có thể thấy, mối quan tâm của người Nhật đương thời đối với tri thức trải rộng từ tôn giáo, giáo dục – tu dưỡng, đến nghệ thuật, giải trí.
Sự bung nở của các luồng tư tưởng, học phái có nguồn gốc Nho giáo Cùng với sự giải phóng của tri thức, các tư tưởng học thuật vốn chỉ được mật truyền trong tầng lớp quý tộc, sư tăng am hiểu Hán học cũng được phổ biến trong xã hội. Một trong số đó phải kể tới Nho giáo. Đầu thời kì Edo, Nho giáo – cụ thể là Chu Tử học phái được Mạc phủ nồng nhiệt đón nhận như một hệ tư tưởng biện luận cho tính chính đáng trong nền thống trị của dòng họ Tokugawa và trật tự xã hội đương thời. Mạc phủ duy nhất thừa nhận tính chính thống của Chu Tử học do dòng họ Hayashi (hay còn gọi là Rinke, tức Lâm gia) nghiên cứu và giảng dạy.
Tuy nhiên, trên thực tế Mạc phủ không tuyệt đối hóa Nho giáo của Lâm gia học phái như một tiêu chuẩn để tuyển chọn người tài và cũng không ban hành bất kì chính sách thống nhất học thuật tư tưởng nào. Chính vì thế, Nho giáo dưới thời kì Edo được tự do phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng. Sự phát triển về chiều sâu của Nho giáo đầu thời kì Edo thể hiện ở sự phát triển đa dạng của các học phái. Bên cạnh Lâm gia học phái, có thể kể đến sự phát triển của Dương Minh học phái với tên tuổi của Nakae Tojyu (中江藤樹, 1608-1648), Kumazawa Banzan (熊沢蕃山, 1619-1691).
Tuy nhiên, từ thực tế hoàn cảnh xã hội Nhật Bản, nhiều học giả Nho học như Ito Jinsai (伊藤仁斎, 1627-1705), Yamaga Soko (山鹿素行, 1622-1685) đã nhìn ra tính sơ cứng, trừu tượng của Chu Tử học và Dương Minh học. Họ cho rằng những tư tưởng này chịu ảnh hưởng của 18 Phật giáo, nên muốn hiểu chân ý trong lời dạy của Thánh nhân thì nên đọc trực tiếp từ Tứ thư, Ngũ kinh. Khuynh hướng phục cổ đó đã tạo nên Cổ học phái với những tác phẩm phê phán Chu Tử học xuất hiện đầu tiên ở Đông Á trước cả ở Trung Quốc và Triều Tiên2. Kế thừa tinh thần của Cổ học phái chính là sự ra đời của Chiết chung học phái do Ogyu Sorai (荻生徂徠, 1666-1728) đề xướng.
Tương tự như Cổ học phái, Chiết chung học phái cũng mang tinh thần phê phán Chu Tử học và đề cao việc nghiên cứu cổ văn. Song, học phái này không thừa nhận quyền uy tuyệt đối của bất kì một kinh sách hay tư tưởng của học giả nào, thay vào đó là nhìn nhận tất cả theo một dòng chảy lịch sử với cả những ưu điểm và hạn chế. Sorai từng nhìn nhận: “Học vấn chính là lịch sử”3. Khuynh hướng chiết chung thay vì tranh luận đối lập của Sorai đã tạo nên một phong thái linh động, cởi mở trong tiếp thu tri thức, có ảnh hưởng đến rất nhiều các học giả Nho giáo khác sau đó như Miura Baien (三浦梅園, 1723-1789) Ninomiya Sontoku (二宮尊徳, 1787-1856), Sato Issai (佐藤一斉, 1772-1859).
Bên cạnh sự phát triển theo chiều sâu, Nho giáo thời kì Edo còn phát triển mạnh theo chiều rộng, lan tỏa trong các cấp bậc và tầng lớp xã hội khác nhau từ võ sĩ đến các tầng lớp dân thường. Để hiện thực hóa nền “nhân chính”, “đức trị”, bắt đầu từ thời kì của tướng quân thứ 4 Tsunayoshi (徳川綱吉, 1646-1709), và đặc biệt là thời kì của tướng quân thứ 5 Yoshimune (徳川吉宗, 1684-1751), Nho giáo được khuyến khích học tập và phổ biến sâu rộng cho mọi tầng lớp trong xã hội. Từ năm 1717, Yoshimune 2 [48, tr.77] 3 Ogyu Sorai (1973), Ogyu Sorai tuyển tập quyển 1 – Tồ Lai tiên sinh vấn đáp thư, NXB Misuzu Shobo, Nhật Bản. 19 cho phép dân thường được nghe giảng kinh thư tại các cơ sở vốn trước nay là cơ sở học tập của võ sĩ như Yushima Seido (湯島聖堂), Takakura Yashiki (高倉屋敷) ở Edo [53, tr.
Nhận thấy sự phổ biến của cơ sở giáo dục bình dân terakoya4, Yoshimune đã có ý tưởng thực thi nền giáo dục đạo đức Nho giáo trong dân chúng bằng cách can thiệp vào hoạt động giảng dạy tại đây. Nổi bật nhất là sự kiện ông ra lệnh dịch và đơn giản hóa nội dung “Lục dụ diễn nghĩa”5 của Trung Hoa. Tác phẩm này sau đó được in và cung cấp như tài liệu tập đọc viết cho các terakoya. Ngoài ra, Mạc phủ cũng công nhận và tạo điều kiện để các cơ sở nghiên cứu học thuật của thị dân như Fukagawa Kyojyusho (深川教授所, 1723), Kaitokudou (懐徳堂, 1726) được phép hoạt động [51, tr.
Bằng những việc làm trên, Nho giáo từng bước thâm nhập và thẩm thấu vào đời sống của tầng lớp dân thường. Rõ ràng, mục đích cuối cùng trong sự phổ cập Nho giáo của giới thống trị trong tầng lớp dân thường là xây dựng ý thức phục tùng thể chế và ổn định trật tự xã hội. Song, điều đó đã ngẫu nhiên trở thành chất xúc tác tạo nên sự phát triển của dòng Nho học nơi thị tứ, làm phong phú thêm đời sống tinh thần, ý thức đạo đức của giới thị dân. Những chuyển biến trong nhận thức của giới thị dân 1.
Nhận thức về vai trò của thị dân Sự bung nở của tri thức và sự phát triển của học thuật tư tưởng không thể có được nếu thiếu đi sự đón nhận, ủng hộ, đóng góp không nhỏ từ tầng lớp thị dân trong xã hội. Tầng lớp này được ví như “chủ nhân” tiền bạc, tài sản của xã hội trong một 4 Terakoya (寺子屋): là những cơ sở giáo dục của thường dân trong thời kì Edo. Giáo viên ở đây thường là các sư tăng, võ sĩ, thầy thuốc.Nội dung giảng dạy tập trung vào các kĩ năng như đọc, viết, làm tính. 5 Tham khảo phụ lục 1 20 thời đại mà tiền bạc có uy lực chi phối đời sống và dường như trở thành tiêu chuẩn để đánh giá con người vượt lên cả xuất thân hay đẳng cấp.
Từ thực tế này, Ihara Saikaku – một nhà tiểu thuyết thị dân nổi tiếng đương thời từng viết: “Thị dân bình thường nên biết việc làm giàu mà vang danh thiên hạ.Vàng bạc giống như gia phả của thị dân.Điều cốt yếu của một thị dân là trở thành hào phú” [56, tr. Từ sự tự ý thức về địa vị kinh tế đang ngày một nâng cao, thị dân cũng bắt đầu tỏ ra xem thường những giá trị đạo đức của võ sĩ, và mang ý thức tự tôn về tầng lớp mình. Điều này được thể hiện dưới ngòi bút của Nishikawa Joken – một thị dân sống ở Nagasaki qua tác phẩm “Cẩm nang của thị dân” (『町人嚢』). “Sinh ra làm thân võ sĩ quả là phiền não.
Cả đời phải khép nép phụng sự quân chủ, chẳng có lúc nào tâm được thư thái, đặt danh lợi lên làm đầu rồi dọa nạt người khác, sống cuộc đời của một thị dân còn vui sướng hơn niềm vui sống cuộc đời lúc nào cũng phải tỏ ra nghiêm trang, đạo mạo như võ sĩ”[49, tr. Ngỡ tưởng rằng sự vươn lên về mặt kinh tế sẽ giúp thị dân xác lập được vai trò chủ đạo về mặt đạo đức tư tưởng. Song, dù giàu có đến đâu, thương nhân cũng không thể thay đổi thực tế rằng, họ vẫn phải sống dưới sự thống trị hà khắc, nghiêm ngặt của tầng lớp võ sĩ. Nhiều trường hợp thương nhân, trong đó nổi tiếng nhất có phú thương Ishikawa Rokubei (石川六兵衛) năm Tenwa (1681) và phú thương Yodoya Tatsugoro (淀屋辰五郎) năm Hoei (1705) vì sống xa hoa không đúng danh phận mà bị Mạc phủ tịch thu gia sản, bắt đi lưu đày [22, tr.
Nhận thức về tầm quan trọng của gia nghiệp Để duy trì gia nghiệp trong một xã hội khi võ sĩ vừa là tầng lớp thống trị, vừa là tầng lớp tiêu dùng chính, xã hội thị dân đã hình thành nhiều thuật xử thế và chuẩn 21 mực đạo đức như một phương cách phòng vệ. Những điều này được ghi lại và truyền tụng trong gia huấn, gia pháp của nhiều thương gia. Điều được nhấn mạnh trước tiên là việc “hiểu và tuân theo pháp độ của bề trên” [56, tr.240], “thực hiện vạn sự đường hoàng đúng đắn, giữ gìn chính pháp, quốc pháp” [56, tr. Bên cạnh ý thức phục tùng giới thống trị là ý thức về việc xây dựng, gìn giữ và dốc sức vì gia nghiệp.
Gia huấn của nhà Konoike từng viết: “không làm trái nhân nghĩa và đạo ngũ thường. Đó là tôn kính quân chủ, hiếu hành với cha mẹ, vợ chồng hòa mục, khiêm tốn, không xa xỉ, lấy việc dốc sức vì gia chức làm đầu” [56, tr. Nhận thức về việc xây dựng chuẩn mực đạo đức và thuật xử thế Những năm cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII, xã hội thị dân lại phải trải qua một thời kì khó khăn đình trệ do những chính sách trong cuộc cải cách Kyoho (từ năm 1717). Ngay tại thời điểm này, một số tác phẩm viết về thuật xử thế đã ra đời, trong đó không thể không kể đến tác phẩm “Những ghi chép về thị dân” (『町人考 見録』) của đại thương gia Mitsui do Mitsui Takafusa (三井高房,1684-1748) biên soạn.
Đương thời, tác phẩm này vốn chỉ được lưu truyền trong gia đình Mitsui và không được phép công khai ra bên ngoài. Trong đó, Takafusa đã tổng kết, phân tích ba mươi trường hợp phá sản của các đại thương gia đương thời. Trên cơ sở đó, ông đã đúc kết những phẩm chất của thương nhân để hiện thực hóa việc duy trì gia nghiệp bền vững gồm: kiệm ước, chuyên tâm vì gia nghiệp, biết tính toán, giữ chừng mực khoảng cách trong mối quan hệ với võ sĩ…[49, tr.