Luận văn thạc sĩ tư tưởng ishida baigan 1685 1744 và phong trào sekimon shingaku từ trung kì edo đến nay

Luận văn thạc sĩ khám phá tư tưởng Ishida Baigan (1685-1744) và phong trào Sekimon Shingaku từ trung kỳ Edo đến hiện đại, phân tích sâu sắc ảnh hưởng văn hóa, xã hội.

Chuyên ngành

Châu Á học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

294
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Luận văn thạc sĩ Tư tưởng Ishida Baigan và phong trào Sekimon Shingaku

Luận văn thạc sĩ này tập trung nghiên cứu tư tưởng Ishida Baigan (1685-1744)phong trào Sekimon Shingaku từ trung kỳ Edo đến nay. Ishida Baigan, một nhà tư tưởng nổi bật thời Edo, đã đặt nền móng cho Sekimon Shingaku, một phong trào giáo dục tâm linh và đạo đức. Luận văn nhấn mạnh sự ảnh hưởng của Baigan trong việc hình thành tư tưởng thị dân, kết hợp giữa Nho giáo, Phật giáo, và Thần đạo. Phong trào này không chỉ phản ánh sự chuyển biến trong triết học Nhật Bản mà còn góp phần vào sự phát triển văn hóa Edotư tưởng cải cách.

1.1. Bối cảnh lịch sử và tư tưởng

Trung kỳ Edo là thời kỳ mà Nhật Bản chứng kiến sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế. Ishida Baigan xuất hiện trong bối cảnh này, với tư tưởng kết hợp đạo đức thương nhângiáo dục tâm linh. Ông đề cao tư tưởng đạo đứcthực hành tâm linh, tạo nên một hệ thống giáo dục độc đáo. Sekimon Shingaku trở thành phong trào lan rộng, ảnh hưởng đến tư tưởng xã hộikinh tế thời Edo.

1.2. Đóng góp của Ishida Baigan

Ishida Baigan không chỉ là nhà tư tưởng mà còn là nhà giáo dục. Ông nhấn mạnh tư tưởng tâm linhđạo đức thực hành, giúp thị dân nhận thức vai trò của mình trong xã hội. Tư tưởng kinh tế của ông đề cao sự hòa hợp giữa lợi ích cá nhân và cộng đồng, tạo nền tảng cho triết lý kinh doanh Nhật Bản hiện đại.

II. Phong trào Sekimon Shingaku từ trung kỳ Edo đến nay

Phong trào Sekimon Shingaku bắt nguồn từ tư tưởng Ishida Baigan, phát triển mạnh mẽ từ trung kỳ Edo và tiếp tục ảnh hưởng đến Nhật Bản hiện đại. Phong trào này không chỉ là một hình thức giáo dục tâm linh mà còn là một phong trào tôn giáoxã hội, thúc đẩy sự tự giác và đạo đức trong quần chúng. Sekimon Shingaku đã vượt qua những thăng trầm lịch sử, từ thời kỳ suy yếu cuối Edo đến sự phục hồi sau Chiến tranh thế giới thứ 2.

2.1. Sự phát triển và suy yếu

Từ trung kỳ Edo, Sekimon Shingaku lan rộng khắp Nhật Bản, trở thành một phong trào giáo dục đạo đức bình dân. Tuy nhiên, vào cuối thời Edo, phong trào này dần suy yếu do sự thay đổi trong tư tưởng chính trịkinh tế. Dù vậy, tư tưởng Ishida Baigan vẫn được bảo tồn và tiếp tục ảnh hưởng đến các thế hệ sau.

2.2. Phục hồi và hiện đại hóa

Sau Chiến tranh thế giới thứ 2, Sekimon Shingaku được phục hồi thông qua các tổ chức như Sekimon ShingakkaiSekimon Shingaku Jissen Koza. Những tổ chức này đã hiện đại hóa tư tưởng Ishida Baigan, áp dụng vào giáo dụckinh doanh hiện đại. Tư tưởng tâm linhđạo đức của Baigan tiếp tục được coi trọng trong văn hóa Nhật Bản.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Luận văn thạc sĩ này không chỉ làm rõ tư tưởng Ishida Baiganphong trào Sekimon Shingaku mà còn nhấn mạnh giá trị thực tiễn của chúng. Tư tưởng đạo đứctâm linh của Baigan đã góp phần hình thành triết lý kinh doanhgiáo dục Nhật Bản. Sekimon Shingaku là một minh chứng cho sức mạnh của tư tưởng cải cáchtôn giáo trong việc thúc đẩy sự phát triển xã hội.

3.1. Ảnh hưởng đến giáo dục và kinh doanh

Tư tưởng Ishida Baigan đã ảnh hưởng sâu sắc đến giáo dục tâm linhđạo đức kinh doanh Nhật Bản. Các nguyên tắc như sự hòa hợp giữa lợi ích cá nhân và cộng đồng, sự tự giác trong đạo đức, đã trở thành nền tảng cho triết lý kinh doanh hiện đại. Sekimon Shingaku cũng được áp dụng trong các chương trình giáo dụcđào tạo.

3.2. Ý nghĩa lịch sử và hiện đại

Luận văn này khẳng định ý nghĩa lịch sử của tư tưởng Ishida Baiganphong trào Sekimon Shingaku trong việc hình thành văn hóatư tưởng Nhật Bản. Đồng thời, nó cũng chỉ ra giá trị hiện đại của những tư tưởng này trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và kinh tế đương đại.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ tư tưởng ishida baigan 1685 1744 và phong trào sekimon shingaku từ trung kì edo đến nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cuốn “Quảng Ích thư tịch mục lục đại toàn” (広益目録大全』) – một cuốn danh mục sách xuất bản năm 1692 có đoạn miêu tả: “Trong cảnh thái bình, Thánh đức soi rọi tứ hải, tứ dân được lấy việc đọc sách làm niềm vui. Cũng vì thế mà rất nhiều sách được xuất bản hàng năm. Sách chữ Nho thì có thần thư, gia thư, nghệ thư, sách bằng chữ kana thì có ca thư, Thần đạo, Thần Phật, quân thư, âm khúc (âm nhạc bình dân)” [52, tr. Năm 1670 1685 1692 Thể loại Sách về Phật giáo Số bộ phát hành 1677 2493 2799 Tỉ lệ (%) 44.9 Sách học thuật, sách giáo dưỡng Số bộ phát hành 877 1228 1472 Tỉ lệ (%) 22.5 Sách Y học Số bộ phát hành 247 401 405 Tỉ lệ (%) 6.3 Sách viết bằng chữ kana Số bộ phát hành 1025 1812 2456 Tỉ lệ (%) 26.3 Tổng số bộ 3826 5934 7132 Tỉ lệ gia tăng 100 155 186 17 Bảng 1.1: Tình hình xuất bản trong những năm Kanbun – Genroku (1661-1704) Nguồn: [52, tr.235] Từ đó có thể thấy, mối quan tâm của người Nhật đương thời đối với tri thức trải rộng từ tôn giáo, giáo dục – tu dưỡng, đến nghệ thuật, giải trí.

Sự bung nở của các luồng tư tưởng, học phái có nguồn gốc Nho giáo Cùng với sự giải phóng của tri thức, các tư tưởng học thuật vốn chỉ được mật truyền trong tầng lớp quý tộc, sư tăng am hiểu Hán học cũng được phổ biến trong xã hội. Một trong số đó phải kể tới Nho giáo. Đầu thời kì Edo, Nho giáo – cụ thể là Chu Tử học phái được Mạc phủ nồng nhiệt đón nhận như một hệ tư tưởng biện luận cho tính chính đáng trong nền thống trị của dòng họ Tokugawa và trật tự xã hội đương thời. Mạc phủ duy nhất thừa nhận tính chính thống của Chu Tử học do dòng họ Hayashi (hay còn gọi là Rinke, tức Lâm gia) nghiên cứu và giảng dạy.

Tuy nhiên, trên thực tế Mạc phủ không tuyệt đối hóa Nho giáo của Lâm gia học phái như một tiêu chuẩn để tuyển chọn người tài và cũng không ban hành bất kì chính sách thống nhất học thuật tư tưởng nào. Chính vì thế, Nho giáo dưới thời kì Edo được tự do phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng. Sự phát triển về chiều sâu của Nho giáo đầu thời kì Edo thể hiện ở sự phát triển đa dạng của các học phái. Bên cạnh Lâm gia học phái, có thể kể đến sự phát triển của Dương Minh học phái với tên tuổi của Nakae Tojyu (中江藤樹, 1608-1648), Kumazawa Banzan (熊沢蕃山, 1619-1691).

Tuy nhiên, từ thực tế hoàn cảnh xã hội Nhật Bản, nhiều học giả Nho học như Ito Jinsai (伊藤仁斎, 1627-1705), Yamaga Soko (山鹿素行, 1622-1685) đã nhìn ra tính sơ cứng, trừu tượng của Chu Tử học và Dương Minh học. Họ cho rằng những tư tưởng này chịu ảnh hưởng của 18 Phật giáo, nên muốn hiểu chân ý trong lời dạy của Thánh nhân thì nên đọc trực tiếp từ Tứ thư, Ngũ kinh. Khuynh hướng phục cổ đó đã tạo nên Cổ học phái với những tác phẩm phê phán Chu Tử học xuất hiện đầu tiên ở Đông Á trước cả ở Trung Quốc và Triều Tiên2. Kế thừa tinh thần của Cổ học phái chính là sự ra đời của Chiết chung học phái do Ogyu Sorai (荻生徂徠, 1666-1728) đề xướng.

Tương tự như Cổ học phái, Chiết chung học phái cũng mang tinh thần phê phán Chu Tử học và đề cao việc nghiên cứu cổ văn. Song, học phái này không thừa nhận quyền uy tuyệt đối của bất kì một kinh sách hay tư tưởng của học giả nào, thay vào đó là nhìn nhận tất cả theo một dòng chảy lịch sử với cả những ưu điểm và hạn chế. Sorai từng nhìn nhận: “Học vấn chính là lịch sử”3. Khuynh hướng chiết chung thay vì tranh luận đối lập của Sorai đã tạo nên một phong thái linh động, cởi mở trong tiếp thu tri thức, có ảnh hưởng đến rất nhiều các học giả Nho giáo khác sau đó như Miura Baien (三浦梅園, 1723-1789) Ninomiya Sontoku (二宮尊徳, 1787-1856), Sato Issai (佐藤一斉, 1772-1859).

Bên cạnh sự phát triển theo chiều sâu, Nho giáo thời kì Edo còn phát triển mạnh theo chiều rộng, lan tỏa trong các cấp bậc và tầng lớp xã hội khác nhau từ võ sĩ đến các tầng lớp dân thường. Để hiện thực hóa nền “nhân chính”, “đức trị”, bắt đầu từ thời kì của tướng quân thứ 4 Tsunayoshi (徳川綱吉, 1646-1709), và đặc biệt là thời kì của tướng quân thứ 5 Yoshimune (徳川吉宗, 1684-1751), Nho giáo được khuyến khích học tập và phổ biến sâu rộng cho mọi tầng lớp trong xã hội. Từ năm 1717, Yoshimune 2 [48, tr.77] 3 Ogyu Sorai (1973), Ogyu Sorai tuyển tập quyển 1 – Tồ Lai tiên sinh vấn đáp thư, NXB Misuzu Shobo, Nhật Bản. 19 cho phép dân thường được nghe giảng kinh thư tại các cơ sở vốn trước nay là cơ sở học tập của võ sĩ như Yushima Seido (湯島聖堂), Takakura Yashiki (高倉屋敷) ở Edo [53, tr.

Nhận thấy sự phổ biến của cơ sở giáo dục bình dân terakoya4, Yoshimune đã có ý tưởng thực thi nền giáo dục đạo đức Nho giáo trong dân chúng bằng cách can thiệp vào hoạt động giảng dạy tại đây. Nổi bật nhất là sự kiện ông ra lệnh dịch và đơn giản hóa nội dung “Lục dụ diễn nghĩa”5 của Trung Hoa. Tác phẩm này sau đó được in và cung cấp như tài liệu tập đọc viết cho các terakoya. Ngoài ra, Mạc phủ cũng công nhận và tạo điều kiện để các cơ sở nghiên cứu học thuật của thị dân như Fukagawa Kyojyusho (深川教授所, 1723), Kaitokudou (懐徳堂, 1726) được phép hoạt động [51, tr.

Bằng những việc làm trên, Nho giáo từng bước thâm nhập và thẩm thấu vào đời sống của tầng lớp dân thường. Rõ ràng, mục đích cuối cùng trong sự phổ cập Nho giáo của giới thống trị trong tầng lớp dân thường là xây dựng ý thức phục tùng thể chế và ổn định trật tự xã hội. Song, điều đó đã ngẫu nhiên trở thành chất xúc tác tạo nên sự phát triển của dòng Nho học nơi thị tứ, làm phong phú thêm đời sống tinh thần, ý thức đạo đức của giới thị dân. Những chuyển biến trong nhận thức của giới thị dân 1.

Nhận thức về vai trò của thị dân Sự bung nở của tri thức và sự phát triển của học thuật tư tưởng không thể có được nếu thiếu đi sự đón nhận, ủng hộ, đóng góp không nhỏ từ tầng lớp thị dân trong xã hội. Tầng lớp này được ví như “chủ nhân” tiền bạc, tài sản của xã hội trong một 4 Terakoya (寺子屋): là những cơ sở giáo dục của thường dân trong thời kì Edo. Giáo viên ở đây thường là các sư tăng, võ sĩ, thầy thuốc.Nội dung giảng dạy tập trung vào các kĩ năng như đọc, viết, làm tính. 5 Tham khảo phụ lục 1 20 thời đại mà tiền bạc có uy lực chi phối đời sống và dường như trở thành tiêu chuẩn để đánh giá con người vượt lên cả xuất thân hay đẳng cấp.

Từ thực tế này, Ihara Saikaku – một nhà tiểu thuyết thị dân nổi tiếng đương thời từng viết: “Thị dân bình thường nên biết việc làm giàu mà vang danh thiên hạ.Vàng bạc giống như gia phả của thị dân.Điều cốt yếu của một thị dân là trở thành hào phú” [56, tr. Từ sự tự ý thức về địa vị kinh tế đang ngày một nâng cao, thị dân cũng bắt đầu tỏ ra xem thường những giá trị đạo đức của võ sĩ, và mang ý thức tự tôn về tầng lớp mình. Điều này được thể hiện dưới ngòi bút của Nishikawa Joken – một thị dân sống ở Nagasaki qua tác phẩm “Cẩm nang của thị dân” (『町人嚢』). “Sinh ra làm thân võ sĩ quả là phiền não.

Cả đời phải khép nép phụng sự quân chủ, chẳng có lúc nào tâm được thư thái, đặt danh lợi lên làm đầu rồi dọa nạt người khác, sống cuộc đời của một thị dân còn vui sướng hơn niềm vui sống cuộc đời lúc nào cũng phải tỏ ra nghiêm trang, đạo mạo như võ sĩ”[49, tr. Ngỡ tưởng rằng sự vươn lên về mặt kinh tế sẽ giúp thị dân xác lập được vai trò chủ đạo về mặt đạo đức tư tưởng. Song, dù giàu có đến đâu, thương nhân cũng không thể thay đổi thực tế rằng, họ vẫn phải sống dưới sự thống trị hà khắc, nghiêm ngặt của tầng lớp võ sĩ. Nhiều trường hợp thương nhân, trong đó nổi tiếng nhất có phú thương Ishikawa Rokubei (石川六兵衛) năm Tenwa (1681) và phú thương Yodoya Tatsugoro (淀屋辰五郎) năm Hoei (1705) vì sống xa hoa không đúng danh phận mà bị Mạc phủ tịch thu gia sản, bắt đi lưu đày [22, tr.

Nhận thức về tầm quan trọng của gia nghiệp Để duy trì gia nghiệp trong một xã hội khi võ sĩ vừa là tầng lớp thống trị, vừa là tầng lớp tiêu dùng chính, xã hội thị dân đã hình thành nhiều thuật xử thế và chuẩn 21 mực đạo đức như một phương cách phòng vệ. Những điều này được ghi lại và truyền tụng trong gia huấn, gia pháp của nhiều thương gia. Điều được nhấn mạnh trước tiên là việc “hiểu và tuân theo pháp độ của bề trên” [56, tr.240], “thực hiện vạn sự đường hoàng đúng đắn, giữ gìn chính pháp, quốc pháp” [56, tr. Bên cạnh ý thức phục tùng giới thống trị là ý thức về việc xây dựng, gìn giữ và dốc sức vì gia nghiệp.

Gia huấn của nhà Konoike từng viết: “không làm trái nhân nghĩa và đạo ngũ thường. Đó là tôn kính quân chủ, hiếu hành với cha mẹ, vợ chồng hòa mục, khiêm tốn, không xa xỉ, lấy việc dốc sức vì gia chức làm đầu” [56, tr. Nhận thức về việc xây dựng chuẩn mực đạo đức và thuật xử thế Những năm cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII, xã hội thị dân lại phải trải qua một thời kì khó khăn đình trệ do những chính sách trong cuộc cải cách Kyoho (từ năm 1717). Ngay tại thời điểm này, một số tác phẩm viết về thuật xử thế đã ra đời, trong đó không thể không kể đến tác phẩm “Những ghi chép về thị dân” (『町人考 見録』) của đại thương gia Mitsui do Mitsui Takafusa (三井高房,1684-1748) biên soạn.

Đương thời, tác phẩm này vốn chỉ được lưu truyền trong gia đình Mitsui và không được phép công khai ra bên ngoài. Trong đó, Takafusa đã tổng kết, phân tích ba mươi trường hợp phá sản của các đại thương gia đương thời. Trên cơ sở đó, ông đã đúc kết những phẩm chất của thương nhân để hiện thực hóa việc duy trì gia nghiệp bền vững gồm: kiệm ước, chuyên tâm vì gia nghiệp, biết tính toán, giữ chừng mực khoảng cách trong mối quan hệ với võ sĩ…[49, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ: Tư tưởng Ishida Baigan (1685-1744) và phong trào Sekimon Shingaku từ trung kỳ Edo đến nay là một nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng của Ishida Baigan, nhà triết học nổi tiếng thời Edo, và ảnh hưởng của phong trào Sekimon Shingaku đối với xã hội Nhật Bản từ thế kỷ 18 đến nay. Tài liệu này không chỉ làm rõ các nguyên lý đạo đức và triết lý của Baigan mà còn phân tích sự lan tỏa của Sekimon Shingaku trong việc hình thành nền tảng văn hóa và tinh thần của người Nhật. Độc giả sẽ hiểu sâu hơn về cách tư tưởng này đã góp phần vào sự phát triển xã hội và kinh tế Nhật Bản, đồng thời nhận ra giá trị lịch sử và triết học của nó trong bối cảnh hiện đại.

Để mở rộng kiến thức về các tư tưởng triết học phương Đông, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ triết học tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi (1835-1901) và giá trị của nó, nghiên cứu về một nhà tư tưởng khác có ảnh hưởng lớn đến Nhật Bản. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ triết học tư tưởng Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn Tùng Thoại cung cấp góc nhìn về triết học Việt Nam, giúp so sánh và đối chiếu với tư tưởng Nhật Bản. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ triết học phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper sẽ mang đến cách tiếp cận phương Tây, tạo nên bức tranh toàn diện về triết học đa chiều.