Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học (mã số chuyên ngành thuộc lĩnh vực Lịch sử Triết học / Lịch sử tư tưởng Việt Nam) tập trung nghiên cứu: "Tư tưởng Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bước sang thế kỷ XIX, khi triều Nguyễn thiết lập nền quân chủ tập quyền chuyên chế, Nho giáo tiếp tục giữ vai trò bệ đỡ hệ tư tưởng nhằm củng cố địa vị thống trị và giữ vững kỷ cương xã hội. Nhà nước phong kiến triều Nguyễn chú trọng phát triển lý luận cũng như vận dụng Nho học trong mọi lĩnh vực đời sống, đặc biệt là giáo dục đạo đức và đào tạo nhân tài.

Nguyễn Đức Đạt (1825 - 1887) là một nhà nho, nhà tư tưởng và nhà giáo dục tiêu biểu nửa sau thế kỷ XIX tại vùng đất Lam Hồng (Nam Đàn, Nghệ An). Sau thời gian làm quan cho triều đình Tự Đức, ông về quê mở trường dạy học và để lại nhiều trước tác thuộc các lĩnh vực triết học, văn học, sử học, mỹ học. Trong đó, tác phẩm đồ sộ và tiêu biểu nhất là Nam Sơn tùng thoại – một tác phẩm Nho học được trước tác dưới dạng hỏi - đáp (vấn đáp) tương tự như Luận ngữ của Khổng Tử, phản ánh hệ thống tri thức Nho giáo được tiếp nhận và kiến giải tại Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả luận án chỉ ra:

  • Trước đây, các công trình nghiên cứu về Nguyễn Đức Đạt còn tương đối khiêm tốn, chủ yếu dừng lại ở các bài viết nghiên cứu từng khía cạnh riêng lẻ như tư tưởng đạo đức, tư tưởng thẩm mỹ hoặc các bài viết khái quát sơ lược trong các bộ thông sử tư tưởng Việt Nam.
  • Chưa có một công trình chuyên khảo toàn diện phân tích tổng quát diện mạo tư tưởng Nguyễn Đức Đạt trong Nam Sơn tùng thoại như một sản phẩm tư tưởng tích hợp của Nho giáo Việt Nam thế kỷ XIX.
  • Mặc dù năm 2017 đã có Luận văn thạc sĩ của tác giả Vũ Văn Thước mang tên "Tư tưởng Nguyễn Đức Đạt qua tác phẩm Nam Sơn tùng thoại", nhưng công trình đó chỉ dừng lại ở việc liệt kê, mô tả khái quát các mặt tư tưởng. Luận án tiến sĩ này lựa chọn hướng tiếp cận hoàn toàn mới: cấu trúc hóa toàn bộ 4 quyển của Nam Sơn tùng thoại thành hai trục lý luận xuyên suốt là Nội thánh học (triết lý bản thể, thiên mệnh, tâm tính và tu dưỡng) và Ngoại vương học (đạo trị quốc, thuật dùng người và thực thi chính sự).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Phân tích, luận giải một cách hệ thống những nội dung tư tưởng cơ bản của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại, từ đó đưa ra đánh giá khách quan về giá trị, hạn chế và ý nghĩa của các tư tưởng này trong lịch sử tư tưởng Việt Nam cũng như đối với thực tiễn hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Khảo cứu tình hình nghiên cứu về tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại, chỉ ra những thành tựu của các học giả đi trước để kế thừa, đồng thời xác định các vấn đề còn bỏ ngỏ cần tiếp tục giải quyết.
    2. Trình bày, phân tích những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại.
    3. Phân tích, làm rõ nội dung tư tưởng triết học và tâm tính học (Nội thánh học) trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại.
    4. Phân tích, làm rõ nội dung tư tưởng về đạo trị nước và thực thi chính sự (Ngoại vương học) trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại của Nguyễn Đức Đạt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ hệ thống tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt thể hiện trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tác phẩm Nam Sơn tùng thoại bao quát nhiều lĩnh vực (triết học, tâm tính học, chính trị, quân sự, lý tài, kinh tế, lễ nhạc, nhân lực). Để bảo đảm tính chuyên sâu, luận án tập trung vào hai nội dung cốt lõi:
    1. Tư tưởng triết học và tâm tính học.
    2. Tư tưởng về đạo trị nước và thực thi chính sự.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, trọng tâm là giai đoạn từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp làm quan và dạy học của Nguyễn Đức Đạt (đỗ Thám hoa năm 1853 dưới triều Tự Đức đến khi qua đời năm 1887).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tiến hành hệ thống hóa một khối lượng lớn các tài liệu nghiên cứu liên quan đến bối cảnh thời đại, tiền đề tư tưởng và bản thân nhân vật Nguyễn Đức Đạt theo các nhóm hướng nghiên cứu chính:

                                 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Bối cảnh lịch sử       Tiền đề tư tưởng        Thân thế & sự nghiệp     Tư tưởng chuyên biệt
- Kinh tế (Nguyễn      - Kinh điển Nho học     - Ninh Viết Giao         - Triết học (Trần Văn
  Thế Anh, Đỗ Bang)      (Trần Trọng Kim)        (2005)                   Giàu, Trịnh Doãn Chính)
- Chính trị (Trần      - Nho giáo VN (Vũ       - Nguyễn Thị Hương       - Tâm tính & Giáo dục
  Thanh Tâm, Đỗ Bang)    Khiêu, Lê Sĩ Thắng)     (2010)                   (Lê Sỹ Thắng)
- Sử học (Võ Kim       - Tư tưởng thế kỷ XIX   - Nguyễn Văn Phúc        - Trị quốc (Lê Sỹ Thắng,
  Cương, Đinh Xuân Lâm)  (Trần Văn Giàu, 1973)   (đạo đức, thẩm mỹ)       Trịnh Doãn Chính)

1. Nhóm nghiên cứu về bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX

  • Về kinh tế: Tác phẩm Kinh tế xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn của Nguyễn Thế Anh (1971) làm rõ các chính sách thương mại và vai trò ngoại thương. Đỗ Bang trong Thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn (1997) phân tích nhận thức kinh tế hàng hóa cùng các hạn chế trong chính sách ngoại thương. Nguyễn Phan Quang trong Việt Nam thế kỷ XIX (1999) chỉ ra việc triều đình thiếu các hiệp ước thương mại mở rộng. Công trình Lịch sử Việt Nam, tập 6 (1858 - 1896) do Võ Kim Cương chủ biên (2013) luận giải chi tiết tác động của chính sách bóc lột ruộng đất, thuế khóa của thực dân Pháp và triều đình phong kiến.
  • Về chính trị - xã hội: Trần Thanh Tâm với Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn (1996); Nguyễn Minh Tường với Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh (1996) chỉ ra yếu tố pháp trị đan xen đức trị; Đỗ Bang với Tổ chức bộ máy Nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802 - 1884 (1997) và bài viết về cơ chế tập quyền (2007). Đinh Xuân Lâm (2008) tại Hội thảo khoa học về Vương triều Nguyễn đã phân tích trách nhiệm của triều đình trước sự thất bại của phong trào canh tân. Các tham luận của Trần Kim Đỉnh, Nguyễn Quang Trung Tiến, Trịnh Vĩnh Thường làm rõ thêm những khó khăn ngoại giao và chính trị thời Tự Đức.

2. Nhóm nghiên cứu về tiền đề tư tưởng

  • Nghiên cứu Nho giáo nói chung: Phan Bội Châu (Khổng học đăng), Trần Trọng Kim (Nho giáo), Đào Duy Anh, Đoàn Trung Còn tiếp cận Nho học vừa như hệ tư tưởng chính trị - xã hội vừa như học thuyết triết học. Vũ Khiêu chủ biên cuốn Nho giáo xưa và nay (1990); Viện Triết học - Lê Sĩ Thắng chủ biên cuốn Nho giáo tại Việt Nam (1994); Nguyễn Tài Thư với Nho học và Nho học ở Việt Nam (và bài báo năm 2009 trên Tạp chí Triết học).
  • Nghiên cứu tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX: Trần Văn Giàu trong Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, tập 1 (1973) phân tích cơ sở xã hội của hệ ý thức phong kiến triều Nguyễn. Lê Sỹ Thắng trong Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 2 (1997) luận giải tính tất yếu của việc các nhà nho nỗ lực xây dựng hệ tư tưởng riêng mang dấu ấn Việt Nam trên nòng cốt Nho giáo. Nguyễn Minh Tường trong Lịch sử tư tưởng phương Đông và Việt Nam (2012) và Trịnh Doãn Chính trong Lịch sử tư tưởng Triết học Việt Nam (2013) phân định hai khuynh hướng tư tưởng thế kỷ XIX: khuynh hướng chính thống bảo vệ truyền thống và khuynh hướng canh tân đổi mới.

3. Nhóm nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp và tư tưởng Nguyễn Đức Đạt

  • Ninh Viết Giao trong Nhà giáo danh tiếng đất Lam Hồng (2005) trình bày toàn diện tiểu sử, phân chia sự nghiệp làm quan của Nguyễn Đức Đạt thành 3 chặng và đánh giá cao sự nghiệp trước tác, giáo dục của ông tại quê nhà.
  • Nguyễn Thị Hương (2010) khảo cứu về khoa cử và quan niệm "Đạo"; Nguyễn Văn Phúc phân tích tư tưởng đạo đức và mỹ học; Nguyễn Thu Hương tìm hiểu tinh thần trách nhiệm của nhà nho qua thiên thứ 30 (Bình cư) trong Nam Sơn tùng thoại.
  • Đánh giá về triết học và chính trị: Trần Văn Giàu (1973) nhận định Nam Sơn tùng thoại là công trình trình bày Nho giáo có hệ thống hiếm thấy, đồng thời phân tích quan niệm về Trời - Mệnh trời của ông theo hướng đề cao vai trò con người, phủ nhận thuyết tiền định máy móc. Lê Sỹ Thắng (1997) và Trịnh Doãn Chính (2013) chỉ rõ tư tưởng trị quốc của Nguyễn Đức Đạt lấy dân làm gốc, phối hợp linh hoạt giữa nhân chính Nho gia và pháp chế Pháp gia.
Hướng nghiên cứu Tác giả, công trình tiêu biểu Đóng góp chính Khoảng trống luận án giải quyết
Bối cảnh kinh tế - chính trị Nguyễn Thế Anh (1971), Đỗ Bang (1997), Võ Kim Cương (2013) Làm rõ bức tranh suy thoái kinh tế và khủng hoảng chính trị thời Nguyễn Xác định bối cảnh thúc đẩy Nguyễn Đức Đạt lựa chọn con đường Nho học thực hành
Hệ tư tưởng thế kỷ XIX Trần Văn Giàu (1973), Lê Sỹ Thắng (1997), Nguyễn Minh Tường (2012) Phân tích vai trò độc tôn của Nho giáo và các trào lưu tư tưởng đối trọng Làm rõ vị trí của Nguyễn Đức Đạt trong dòng phái Nho học chính thống bảo tồn giá trị dân tộc
Thân thế & tác phẩm Ninh Viết Giao (2005), Vũ Văn Thước (2017) Cung cấp tiểu sử, khảo sát sơ lược nội dung tác phẩm Hệ thống hóa tác phẩm theo mô hình lý luận Nội thánh - Ngoại vương, đi sâu vào bản thể và trị đạo

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và tư liệu

  • Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về bản chất con người, về đạo đức học và quan hệ giữa con người với hoàn cảnh lịch sử.
  • Khung phân tích lý thuyết: Vận dụng cấu trúc triết học Nho giáo truyền thống được tích hợp trong văn bản gồm hai nhánh:
    1. Nội thánh học: Nghiên cứu bản thể luận, quan niệm về Trời, Đạo, Tâm - Tính - Tình, phương pháp tu thân, tích đức và giáo hóa.
    2. Ngoại vương học: Nghiên cứu chính trị học, đạo trị nước của vua, bổn phận bề tôi, thuật dùng người, kết hợp giữa đức trị và pháp trị nhằm mục tiêu an dân.
  • Cơ sở tư liệu:
    • Tư liệu gốc: Văn bản Hán văn và bản dịch tác phẩm Nam Sơn tùng thoại của Nguyễn Đức Đạt. Kết hợp đối chiếu các bộ chính sử của Quốc sử quán triều Nguyễn như Đại Nam thực lục (Kỷ Tự Đức), Đại Nam liệt truyện (tập 4).
    • Tư liệu bổ trợ: Các công trình nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam, các tác phẩm khác của Nguyễn Đức Đạt (Đông hiên hà dạ tập, Hồ dạng thi, Vịnh sử thi tập, Việt sử thặng bình, Cần kiệm vựng biên, Khảo cổ ức thuyết).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận nghiên cứu định tính đặc thù của khoa học lịch sử triết học và tư tưởng:

  • Phương pháp lôgic - lịch sử: Đặt tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt vào đúng tiến trình vận động lịch sử - xã hội của Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX để thấy rõ tính quy định của hoàn cảnh đối với tư tưởng.
  • Phương pháp phân tích văn bản và hệ thống hóa: Khảo sát từng câu chữ, đoạn vấn đáp trong 30 thiên của Nam Sơn tùng thoại để quy nạp thành các phạm trù triết học và chính trị học có tính chỉnh thể.
  • Phương pháp so sánh: So sánh quan điểm của Nguyễn Đức Đạt với kinh điển Nho gia nguyên thủy (Khổng Tử, Mạnh Tử), Tống Nho, Đạo gia (Lão Tử), Pháp gia và với các nhà tư tưởng cùng thời (như vua Minh Mệnh, Tự Đức, Nguyễn Trường Tộ).
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đánh giá mặt tiến bộ, nhân văn cũng như những hạn chế lịch sử trong thế giới quan và nhân sinh quan của tác giả.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án được kết cấu gồm phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và 4 chương nội dung (13 tiết):

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này thực hiện việc điểm luận toàn diện 3 nhóm công trình khoa học trong và ngoài nước:

  • Khảo cứu các công trình viết về bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa của Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX tác động đến tầng lớp nho sĩ.
  • Khảo cứu các công trình nghiên cứu về Nho giáo Việt Nam, vị thế độc tôn của Nho giáo dưới triều Nguyễn và các tiền đề tư tưởng hình thành nhận thức của Nguyễn Đức Đạt.
  • Khảo cứu các công trình trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến thân thế, sự nghiệp văn chương, tư tưởng triết học, tâm tính học, giáo dục và đạo trị quốc của Nguyễn Đức Đạt trong Nam Sơn tùng thoại.
  • Xác định rõ những luận điểm đã được giới nghiên cứu thống nhất và những vấn đề học thuật luận án tập trung giải quyết: xây dựng một bức tranh hoàn chỉnh, logic về hệ thống tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt qua việc phân loại 4 quyển theo hướng Nội thánh và Ngoại vương.

Chương 2: Cơ sở hình thành tư tưởng Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại

Chương 2 làm sáng tỏ các nhân tố khách quan và chủ quan quy định sự hình thành thế giới quan và lập trường tư tưởng của tác giả:

  • Bối cảnh lịch sử - xã hội:
    • Quốc tế và khu vực: Chủ nghĩa tư bản phương Tây (Anh, Pháp, Mỹ) đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa tại châu Á; sự thất bại của triều đình Mãn Thanh qua Hiệp ước Nam Kinh (1842), sự suy thoái của chế độ Mạc phủ tại Nhật Bản, sự can thiệp của phương Tây vào Đông Nam Á.
    • Kinh tế Việt Nam: Chuyển biến từ nền kinh tế phong kiến tự cấp tự túc sang kinh tế thuộc địa nửa phong kiến sau khi Pháp xâm lược (1858). Sự xâm nhập của tư bản Pháp thông qua khai thác mỏ than, lập đồn điền lúa nước và cây công nghiệp quy mô trên 50ha, bóc lột thuế khóa nặng nề; nạn hạn hán, bão lụt triền miên khiến nông dân bần cùng hóa.
    • Chính trị - xã hội: Khủng hoảng triều chính triều Nguyễn; các hiệp ước Nhâm Tuất (1862), Giáp Tuất (1874), Harmand (1883) từng bước biến Việt Nam thành thuộc địa; sự phân hóa xã hội xuất hiện các giai tầng mới (tư sản, tiểu tư sản, công nhân làm thuê) bên cạnh địa chủ và nông dân. Xã hội nảy sinh hai khuynh hướng: cải cách duy tân và kiên định bảo vệ Nho giáo chính thống.
    • Văn hóa - giáo dục: Sự thâm nhập của văn hóa phương Tây, sự xuất hiện của báo chí (Công báo 1861, Gia Định báo 1865) và chữ quốc ngữ; sự đan xen giữa nền giáo dục Nho học và giáo dục Pháp - Việt; triều đình Tự Đức nỗ lực dịch sách, mở trường dạy tiếng nước ngoài, dạy võ, dạy thuốc.
  • Tiền đề tư tưởng: Nỗ lực phục hưng Nho giáo của các vua đầu triều Nguyễn nhằm thiết lập trật tự xã hội; sự ảnh hưởng sâu sắc của kinh điển Khổng - Mạnh, Tống Nho kết hợp với những hạt nhân hợp lý của Đạo gia và Pháp gia.
  • Thân thế, sự nghiệp và tác phẩm:
    • Nguyễn Đức Đạt sinh ra tại làng Hoành Sơn, Nam Đàn, Nghệ An – vùng đất hiếu học, địa linh nhân kiệt. Đỗ Thám hoa khoa Quý Sửu (1853) niên hiệu Tự Đức thứ 6.
    • Trải qua 3 chặng đường chính: (1) 1853 - 1872: Đỗ Thám hoa, nhiều lần giữ chức Đốc học Nghệ An; (2) 1872 - 1876: Giữ chức Bố chính sứ kiêm Tuần phủ Hưng Yên; (3) 1876 - 1887: Cáo quan về quê mở trường dạy học tại Nam Đàn, tham gia phong trào Cần Vương và mất tại quê nhà.
    • Tác phẩm Nam Sơn tùng thoại gồm 4 quyển, 30 thiên, biên soạn theo lối hỏi - đáp giữa thầy và trò, chứa đựng toàn bộ chiêm nghiệm sâu sắc của ông về vũ trụ, con người và thế sự.

Chương 3: Tư tưởng triết học và tâm tính học của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại và ý nghĩa của nó

Chương 3 đi sâu vào phần "Nội thánh học":

  • Tư tưởng triết học:
    • Quan niệm về Trời và Mệnh trời: Không đồng nhất "Trời" với thần quyền tiền định mù quáng. Nguyễn Đức Đạt nhấn mạnh mệnh trời là cái khó biết trước, chỉ nhận thức được sau khi sự việc đã xảy ra; ông hướng sự chú ý vào con người, khẳng định họa phúc là do hành vi đạo đức và nỗ lực tự thân của con người tạo nên.
    • Quan niệm về Đạo và con đường đạt Đạo: Tiếp thu quan niệm bao la, vô cùng của "Đạo" từ Lão Tử ("Đại đạo như trời che đất chở..."), nhưng nội dung thực hành của Đạo lại gắn chặt với đạo lý làm người của Nho gia (tam cương, ngũ thường). Để đạt Đạo, con người phải dùng cái "Tâm" sáng tỏ, thực hiện "Tứ bất" của Khổng Tử (không làm điều sai trái) và phát huy "Tứ đoan" của Mạnh Tử (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí).
  • Tư tưởng về Tâm tính học:
    • Tâm, Tính và Tình: Phân tích mối liên hệ hữu cơ giữa bản tính tự nhiên và cảm xúc xã hội; đề cao việc giữ gìn tính thiện thông qua tự kiểm soát tình cảm.
    • Học vấn, tu dưỡng và giáo hóa: Khẳng định vai trò quyết định của giáo dục trong việc hoàn thiện nhân cách; động cơ học tập phải hướng tới việc phụng sự xã hội thay vì chỉ mưu cầu danh lợi; phương pháp giáo dục đề cao tính tích cực, gợi mở, giải đáp cặn kẽ khúc mắc của học trò.
  • Ý nghĩa: Đặt nền tảng nhân bản cho Nho học Việt Nam giai đoạn khủng hoảng, góp phần gìn giữ thuần phong mỹ tục và đạo lý truyền thống trước làn sóng xâm lăng văn hóa.

Chương 4: Tư tưởng Nguyễn Đức Đạt về đạo trị quốc và thực thi chính sự trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại và ý nghĩa của nó

Chương 4 tập trung vào phần "Ngoại vương học":

  • Tư tưởng về đạo trị quốc:
    • Đạo trị nước của nhà vua: Vua phải là đấng minh quân, có đức độ cao dày, ân tứ sâu rộng, yêu kính dân như yêu kính bản thân mình; phải biết lắng nghe lời can gián ngay thẳng, trọng dụng hiền thần và xa lánh kẻ xu nịnh, gièm pha.
    • Bổn phận của bề tôi: Phải giữ tròn đạo trung hiếu, tận tụy mưu cầu lợi ích cho dân, dám chịu trách nhiệm trước triều đình để cứu trợ dân chúng trong cơn hoạn nạn.
  • Tư tưởng về chính sự và thực thi chính sự:
    • Quan niệm về chính sự: Mục đích cao nhất của việc cai trị là "an dân" và "thân dân". Coi nông nghiệp là gốc của quốc gia ("quốc dụng trông vào người và đất"), thực hiện chính sách khoan thư sức dân, khuyến khích cày cấy, ổn định làng xã.
    • Quan điểm thực thi chính sự: Kết hợp nhuần nhuyễn giữa "Đức trị" (giáo hóa bằng đạo đức Nho gia) và "Pháp trị" (nghiêm minh chính lệnh theo tinh thần Pháp gia). Về phương thức cai trị, chủ trương "hữu vi trước rồi sau đó mới vô vi" (lập lại trật tự, kỷ cương rồi mới để xã hội tự vận hành thanh bình).
  • Ý nghĩa: Cung cấp bài học thực tiễn sâu sắc về lấy dân làm gốc, xây dựng đội ngũ quan lại thanh liêm, kết hợp giữa đạo đức và pháp luật trong quản lý xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đạt được các kết quả khoa học và đóng góp mới cụ thể:

1. Đóng góp về mặt lý luận

  • Xác lập khung tiếp cận mới đối với tác phẩm Nam Sơn tùng thoại: Thay vì tiếp cận tản mạn theo từng chuyên ngành hiện đại, luận án đã tái cấu trúc tác phẩm theo mô hình tư duy Nho học nguyên bản gồm Nội thánh học (bản thể luận, tâm tính học, tu dưỡng cá nhân) và Ngoại vương học (đạo trị quốc, chính sự học, an dân).
  • Làm rõ tính đặc thù trong thế giới quan triết học của Nguyễn Đức Đạt: Luận án minh định rằng quan niệm về Trời và Thiên mệnh của Nguyễn Đức Đạt đã vượt qua tính chất tiền định tôn giáo thần bí, chuyển dịch trọng tâm sang chủ thể con người: con người tự chịu trách nhiệm về họa phúc thông qua tu dưỡng đạo đức và thực hành chính sự.
  • Làm sáng tỏ sự dung hợp phương pháp trị nước: Chứng minh Nguyễn Đức Đạt đã khéo léo kết hợp hạt nhân "Nhân chính" của Nho gia với tính nghiêm minh của "Pháp trị" Pháp gia, đề ra quy trình quản lý xã hội "hữu vi trước, vô vi sau" phù hợp với hoàn cảnh xã hội nhiều biến động.

2. Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp gợi mở

  • Khẳng định giá trị của tư tưởng thân dân, lấy dân làm gốc ("ái dân", "an dân") của Nguyễn Đức Đạt như một di sản quý báu trong truyền thống yêu nước và quản trị quốc gia của dân tộc.
  • Gợi mở bài học kinh nghiệm cho công tác giáo dục đạo đức, đào tạo cán bộ quản lý hiện nay: đề cao sự nêu gương của người đứng đầu, kết hợp giáo dục đạo đức liêm chính với việc thực thi pháp luật nghiêm minh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được chỉ ra trong luận án

  • Hạn chế về giới hạn nội dung nghiên cứu: Do dung lượng và tính tập trung của luận án tiến sĩ, công trình mới chỉ đi sâu giải quyết hai trục nội dung lớn nhất (triết học - tâm tính học và đạo trị quốc - chính sự), chưa thể khảo sát toàn diện các khía cạnh chuyên biệt khác trong Nam Sơn tùng thoại như nghệ thuật quân sự, kinh tế lý tài chi tiết, lễ nhạc và văn học nghệ thuật.
  • Hạn chế mang tính lịch sử của nhân vật nghiên cứu: Tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt về bản chất vẫn thuộc ý thức hệ phong kiến Nho giáo chính thống; tư tưởng kinh tế của ông còn nặng về "trọng nông ức thương", chưa bắt kịp các trào lưu kinh tế tư bản tiến bộ phương Tây lúc bấy giờ, do đó chưa thể đưa ra con đường giải phóng dân tộc triệt để.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu đối chiếu Nam Sơn tùng thoại với toàn bộ các tác phẩm khác của Nguyễn Đức Đạt (Đông hiên hà dạ tập, Hồ dạng thi, Vịnh sử thi tập, Việt sử thặng bình, Cần kiệm vựng biên, Khảo cổ ức thuyết).
  • Khảo sát sâu hơn về tầm ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục Nguyễn Đức Đạt đối với các thế hệ học trò và sĩ phu yêu nước xứ Nghệ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX trong phong trào Cần Vương và Duy Tân.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Triết học, Lịch sử Triết học, Lịch sử Tư tưởng Việt Nam, Văn hóa học và Hán Nôm học trong việc tiếp cận phương pháp phân tích văn bản Nho học kinh điển.
  • Giảng viên đại học và các viện nghiên cứu: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên đề Nho giáo Việt Nam thời Nguyễn, tư tưởng triết học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX.
  • Người làm công tác quản lý văn hóa và chính sách: Tham khảo các giá trị nhân văn về tư tưởng "lấy dân làm gốc", đạo đức công vụ của người làm quan và bài học kết hợp giữa đạo đức học với pháp luật trong quản trị xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác phẩm Nam Sơn tùng thoại của Nguyễn Đức Đạt có kết cấu như thế nào và được viết theo thể loại gì?

Tác phẩm Nam Sơn tùng thoại gồm 4 quyển với tổng cộng 30 thiên (trong đó có thiên thứ 30 nhan đề Bình cư). Tác phẩm được trước tác theo thể loại hỏi - đáp (vấn đáp) giữa tác giả và các môn sinh, học trò, tương tự như hình thức của sách Luận ngữ của Khổng Tử.

2. Sự khác biệt căn bản giữa luận án này và Luận văn thạc sĩ năm 2017 của tác giả Vũ Văn Thước là gì?

Luận văn thạc sĩ năm 2017 của Vũ Văn Thước tiếp cận theo hướng liệt kê khái quát các mặt tư tưởng triết học, chính trị - xã hội, văn hóa, giáo dục qua các dẫn chứng. Trong khi đó, luận án tiến sĩ này tiếp cận hệ thống hóa 4 quyển của tác phẩm thành hai trục lý luận nền tảng là Nội thánh học (triết lý, thiên mệnh, tu dưỡng bản thân) và Ngoại vương học (đạo trị quốc và thực thi chính sự), từ đó phân tích sâu sắc bản thể luận và chính trị luận của tác giả.

3. Nguyễn Đức Đạt quan niệm như thế nào về "Trời" và "Mệnh trời"?

Theo phân tích trong luận án và nhận định của GS. Trần Văn Giàu, Nguyễn Đức Đạt thừa nhận có Trời và Mệnh trời nhưng quan niệm của ông không đồng nhất với thuyết tiền định siêu nhiên. Ông cho rằng Mệnh trời là điều con người không thể biết trước; do đó, con người phải chủ động chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình, khẳng định họa phúc là do hành vi đạo đức và nỗ lực thực tế của con người tạo nên.

4. Quan điểm trị quốc của Nguyễn Đức Đạt có sự kết hợp những yếu tố tư tưởng nào?

Nguyễn Đức Đạt xây dựng tư tưởng chính trị trên nền tảng Nho gia với tư tưởng cốt lõi là "nhân chính", "thân dân", lấy an dân làm mục đích cao nhất. Đồng thời, ông tiếp thu có chọn lọc tư tưởng của Pháp gia khi coi trọng kỷ cương, phép nước nghiêm minh và vận dụng phương châm "hữu vi trước rồi sau đó mới vô vi" để quản lý đất nước.

5. Sự nghiệp của Nguyễn Đức Đạt được phân chia thành những giai đoạn cụ thể nào?

Theo khảo cứu của nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao, cuộc đời hoạt động của Nguyễn Đức Đạt được chia làm 3 chặng:

  1. 1853 - 1872: Sau khi đỗ Thám hoa, ông ra làm quan và có 3 lần giữ chức Đốc học Nghệ An.
  2. 1872 - 1876: Giữ chức Bố chính sứ kiêm Tuần phủ Hưng Yên.
  3. 1876 - 1887: Rời chốn quan trường về quê Nam Đàn mở trường dạy học, sáng tác văn thảo, tham gia phong trào Cần Vương và qua đời tại quê nhà.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Tư tưởng Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại" là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về di sản tư tưởng của một danh nho tiêu biểu nửa sau thế kỷ XIX tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích tác phẩm theo hai trục lý luận Nội thánh học và Ngoại vương học, luận án đã làm nổi bật những giá trị nhân văn, tinh thần thân dân, quan niệm tiến bộ về đạo đức và phương pháp trị nước kết hợp đức trị với pháp trị của Nguyễn Đức Đạt. Công trình không chỉ góp phần làm rõ bức tranh lịch sử tư tưởng Việt Nam thời Nguyễn mà còn mang lại nguồn tư liệu học thuật giá trị cho công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học hiện nay.