Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Có thể nói, ở nước ta đã có rất nhiều những tập sách viết về Nho giáo Việt Nam thế kỷ XIX, hay các bài viết được đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành cũng nhiều, như: Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh của Nguyễn Hoài Văn, Nho giáo và phát triển ở Việt Nam của Vũ Khiêu, Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập 2 của Lê Sĩ Thắng, Đại cương lịch sử triết học Việt Nam của Nguyễn Hùng Hậu, Sự phát triển tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám tập 1 của Trần Văn Giàu, Lịch sử tư tưởng Triết học Việt Nam của Trịnh Doãn Chính. Ngoài ra, còn rất nhiều các bài viết cũng đã đề cập đến vấn đề này, tiêu biểu là những bài viết của các tác giả như: Nguyễn Tài Thư, Trần Thanh Tâm, Nguyễn Thanh Bình, Lê Thị Lan, Nguyễn Đức Sự, Diệp Quốc Lương. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một tập sách chuyên khảo nào viết về Nguyễn Đức Đạt, chủ yếu tư tưởng của ông được trình bày trong một số chương, tiết hoặc tiểu tiết của những cuốn sách về lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX.
Những nhận định đánh giá của các tác giả là những tư liệu hữu ích và làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu đề tài này. Từ các công trình nghiên cứu đó, chúng tôi chú trọng vào những khuynh hướng nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài như sau: (1) Những công trình nghiên cứu về cơ sở hình thành tư tưởng Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại. (2) Những công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học và tâm tính học của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại. (3) Những công trình nghiên cứu tư tưởng về đạo trị nước và thực thi chính sự của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại.
Các công trình nghiên cứu về cơ sở hình thành tư tưởng Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại 6 1. Các công trình nghiên cứu về bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX Việc nghiên cứu về cơ sở hình thành tư tưởng Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại chính là đi tìm hiểu về bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX. Có thể nói, giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX là giai đoạn có nhiều biến động về tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng ở Việt Nam, vì thế đã được rất nhiều học giả quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt là góc độ lịch sử. Ở đây chúng tôi khảo cứu các tài liệu lịch sử bằng phương pháp lôgic - lịch sử để chỉ ra những chứng cứ lịch sử cụ thể làm ảnh hưởng đến tư tưởng của các nho sĩ Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, trong đó có Nguyễn Đức Đạt.
Để hiểu rõ về tình hình Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đã tác động tới sự hình thành tư tưởng Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại như thế nào, chúng tôi đi tìm hiểu và phân tích các công trình nghiên cứu trên một số lĩnh vực cụ thể sau: * Nhóm các công trình nghiên cứu về tình hình kinh tế Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX Tác phẩm “Kinh tế xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn” của tác giả Nguyễn Thế Anh, nhà xuất bản Lửa thiêng (1971) đã phân tích tỉ mỉ các hoạt động thương nghiệp, trung tâm buôn bán cũng như các yếu tố giao thông vận tải và chính sách thuế khóa trong thương mại dưới triều Nguyễn. Đồng thời, tác giả còn chỉ ra vai trò đặc biệt quan trọng của Nhà nước đối với hoạt động ngoại thương trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX. Tác giả Đỗ Bang trong cuốn sách “Thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn”, nhà xuất bản Thuận Hóa, 1997 đã dành cả chương 2 đi sâu tìm hiểu và trình bày về chính sách thương nghiệp của triều Nguyễn, từ đó đánh giá những tiến bộ, tích cực trong nhận thức của các vua quan nhà Nguyễn về vấn đề kinh tế hàng hóa và ngoại thương, nhất là việc trao đổi buôn bán với các nước trong khu vực. Nhưng đồng thời, tác giả cũng chỉ ra những sai lầm của các vua quan nhà 7 Nguyễn trong quá trình thực thi các chính sách về ngoại thương dẫn đến việc không khuyến khích được thương nhân và kinh tế trì trệ.
Cuốn sách “Việt Nam thế kỷ XIX” của Nguyễn Phan Quang, năm 1999 cũng đề cập đến lĩnh vực kinh tế nhưng chỉ bàn đến vấn đề thương nghiệp mà thôi. Cuốn sách đã trình bày về những chính sách nội thương của triều Nguyễn và tác giả đã chỉ ra những hạn chế trong chính sách nội thương của triều Nguyễn là nhà Nguyễn đã không ký kết các hiệp ước thương mại dẫn đến các chính sách chưa đủ mạnh để thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển. Tác giả Võ Kim Cương (chủ biên) trong cuốn sách Lịch sử Việt Nam, tập 6 (giai đoạn từ năm 1858 đến năm 1896), nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2013 đã phân tích rất chi tiết tình hình kinh tế Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX do triều Nguyễn tổ chức thực hiện thông qua những vấn đề ruộng đất, đê điều, thương mại và nạn đói của nông dân cùng những chính sách kinh tế do thực dân Pháp thực hiện như việc chiếm ruộng đất lập đồn điền, thu thuế khóa nặng nề, chính sách thương mại có lợi cho thực dân Pháp… làm cho đời sống của nhân dân hết sức khó khăn. Những phân tích sâu sắc của tác giả có tác dụng định hướng chúng tôi khảo sát các điều kiện kinh tế ở Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XX với tư cách là cơ sở dẫn tới sự hình thành tư tưởng Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại.
Những nghiên cứu trên cho người đọc hiểu tương đối cụ thể về tình hình kinh tế của Việt Nam thế kỷ XIX: giai đoạn này nền kinh tế Việt Nam không có nhiều khởi sắc, thậm chí từ khi thực dân Pháp xâm lược, nền kinh tế của nước ta “có một vài nét thay đổi” [24, tr. 370] nhưng chủ yếu là nhằm mang lại lợi ích cho thực dân Pháp, còn người dân Việt Nam vô cùng nghèo nàn, đói khổ dù cho triều đình Nhà Nguyễn đã cố gắng bằng nhiều biện pháp khác nhau để cải thiện đời sống nhân dân. Từ những vấn đề kinh tế mà các tác giả đã chỉ ra sẽ là cơ sở để chúng tôi phân tích tình hình kinh tế Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX (ở chương 2, mục 2.1), thấy được sự ảnh hưởng của nó đến tư tưởng thân dân, 8 yêu dân, hết lòng lo cho cuộc sống của nhân dân, sẵn sàng chấp nhận sự trách phạt của triều đình để giúp dân bớt đói khổ ở Nguyễn Đức Đạt. * Nhóm các công trình nghiên cứu về tình hình chính trị - xã hội Tác giả Trần Thanh Tâm với cuốn sách “Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn” nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 1996 đã đi sâu vào tìm hiểu bộ máy quan chức nhà Nguyễn để thấy được sự vận hành của bộ máy này trong chế độ phong kiến có ảnh hưởng như thế nào đến toàn bộ xã hội.
Thông qua những trình bày của tác giả về quan chức nhà Nguyễn và những danh mục từ tra cứu quan chức nhà Nguyễn người đọc có thể hình dung ra chế độ quan chức của một thời đại cũng như cách gọi tên của các chức quan trong triều đình. Những trình bày của tác giả có ý nghĩa quan trọng giúp cho chúng tôi khảo sát điều kiện chính trị, xã hội ở Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX với tư cách là cơ sở dẫn tới hình thành tư tưởng Nguyễn Đức Đạt. Tác giả Nguyễn Minh Tường với “Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh”, nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1996 đã tập trung nghiên cứu sâu hơn về cơ cấu tổ chức, hoạt động của cơ quan giám sát dưới triều Minh Mệnh. Đồng thời tác giả cũng đưa ra nhận định: tư tưởng pháp trị được đề cao dưới triều Minh Mệnh nhằm tạo điều kiện cho bộ máy hành chính thực hiện nghiêm minh, hiệu quả, phòng ngừa nạn tham quan.
Tác phẩm đã nêu khái quát tư tưởng chính trị của Minh Mệnh song chưa đi sâu phân tích về các tư tưởng này. Những luận giải này của Nguyễn Minh Tường giúp cho chúng tôi xác định được vai trò của tư tưởng pháp trị trong tư tưởng Minh Mệnh nhằm thực hiện đường lối cai trị đất nước trong giai đoạn này. Đây được coi là những luận chứng khoa học để chúng tôi luận giải bối cảnh chính trị - xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX dẫn đến sự hình thành tư tưởng Nguyễn Đức Đạt. Từ đó, có thể nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn về tư tưởng chính trị của Nguyễn Đức Đạt có sự kết hợp giữa đạo đức và pháp luật trong đường lối trị nước.
9 Đỗ Bang (chủ biên) với cuốn sách “Tổ chức bộ máy Nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802 - 1884”, nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế (1997) đã cho chúng ta thấy giai đoạn 1802 - 1884 là giai đoạn phát triển cực thịnh của chế độ phong kiến trung ương tập quyền và chứng minh tính uy lực tuyệt đối của triều Nguyễn so với bất kỳ triều đại nào trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Từ đó tác giả tập trung đi vào khai thác và tìm hiểu bộ máy Nhà nước của triều Nguyễn với tư cách là triều đại có khả năng thống nhất lãnh thổ, thế quyền và thần quyền. Sau này, năm 2007, Đỗ Bang còn có bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử với tiêu đề “Triều Nguyễn: thiết lập tập quyền và các chế tài điều tiết cực quyền”. Bài viết đã lý giải tính chất cực đoan của chế độ quân chủ chuyên chế là do chế độ trung ương tập quyền đạt đến đỉnh cao và cực quyền đến mức tuyệt đối, vì thế, nhà Nguyễn đã phải vận dụng học thuyết trị nước của Nho giáo trong thực hiện mục tiêu chính trị.
Đồng thời, tác giả còn trình bày các giải pháp về cơ chế quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, bài viết chưa nêu bật được tác dụng và giá trị trong tư tưởng trị nước của Nho giáo đối với xã hội đương thời và bài học đối với hiện nay.