Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học (mã số 62 22 80 05) với đề tài "Tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi (1835-1901) và giá trị của nó" do nghiên cứu sinh Nguyễn Minh Nguyên thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Hoàng Thị Thơ và PGS. TS. Phạm Hồng Thái, bảo vệ năm 2016 tại Hà Nội.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ cuộc cải cách Minh Trị từ năm 1868 đã đưa Nhật Bản từ một quốc gia phong kiến châu Á nhanh chóng vươn lên thành một cường quốc trong chưa đầy nửa thế kỷ, tạo dựng nền tảng phát triển cho Nhật Bản hiện đại sau Thế chiến thứ hai. Dưới góc độ lịch sử tư tưởng, bên cạnh tầng lớp quan liêu, vai trò của các nhà tư tưởng cải cách mà tiêu biểu là Fukuzawa Yukichi giữ vị trí căn bản đối với những chuyển biến chiến lược của xã hội Nhật Bản. Đồng thời, tư tưởng của Fukuzawa Yukichi đã tạo ra tác động quốc tế, ảnh hưởng trực tiếp đến tầng lớp sĩ phu yêu nước và sự hình thành phong trào Canh tân ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đối với Việt Nam hiện nay, trước các yêu cầu thực tiễn về đổi mới giáo dục - đào tạo, phòng chống tham ô tham nhũng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và hoạch định chiến lược ngoại giao mềm dẻo, việc nghiên cứu các bài học kinh nghiệm từ tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi là cần thiết. Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: trước đây ở Việt Nam chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu và đánh giá một cách toàn diện, hệ thống tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi dưới góc độ triết học trên cả ba lĩnh vực giáo dục, Nhà nước và ngoại giao.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi; từ đó đánh giá giá trị của hệ thống tư tưởng này đối với công cuộc Duy tân Minh Trị ở Nhật Bản và đối với phong trào Canh tân ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, đưa ra một số gợi mở đối với Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp, tác phẩm tiêu biểu của Fukuzawa Yukichi trong bối cảnh lịch sử, kinh tế xã hội thời kỳ Duy tân Minh Trị.
- Phân tích các tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi, tập trung vào ba phương diện chủ yếu là: giáo dục, Nhà nước và ngoại giao.
- Phân tích ảnh hưởng của tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi tới thành công của công cuộc cải cách Minh Trị.
- Làm rõ những ảnh hưởng của tư tưởng Fukuzawa đối với phong trào Canh tân ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, từ đó rút ra một số gợi mở cho công cuộc Đổi mới và hội nhập ở Việt Nam ngày nay.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi và tác động của nó đối với Nhật Bản cũng như ảnh hưởng đến Việt Nam trong giai đoạn cận đại.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Về nội dung và không gian: Các tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi về giáo dục, Nhà nước, ngoại giao và những ảnh hưởng của chúng ở Nhật Bản trong thời kỳ Minh Trị từ năm 1868 đến năm 1912.
- Về tác động liên quốc gia: Tác động của tư tưởng cải cách Fukuzawa Yukichi đến phong trào Canh tân ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu liên quan đến Fukuzawa Yukichi theo 4 mảng vấn đề chính:
Thứ nhất, các công trình đề cập đến vai trò của Fukuzawa Yukichi từ phương diện lịch sử tư tưởng Nhật Bản:
- Nhóm học giả Nhật Bản: Ishida Kazuyoshi (1973) trong cuốn "Nhật Bản tư tưởng sử" (tập 2) hệ thống hóa tư tưởng thời cận đại, phân tích quan điểm của Fukuzawa Yukichi và Kato Hiroyuki về thực học, thực hành, thúc đẩy văn minh hóa và xây dựng nhà nước bằng Hiến pháp; Mitani Hiroshi (1996) trong bài viết về cuộc cách mạng Minh Trị đánh giá Fukuzawa đã làm thay đổi nền giáo dục Nhật Bản bằng tri thức phương Tây; Karube Tadashi và Kataoka Ryu (2008) trong "Nhật Bản tư tưởng sử - Handbook" phân tích tư tưởng của ông qua tác phẩm "Khái lược về văn minh", liên hệ ảnh hưởng từ quan điểm của J. S. Mill và Guizot.
- Nhóm học giả phương Tây: Tetsuo Najita và Irwin Scheiner (1978) trong "Japanese thought in the Tokugawa period 1600-1868 Methods and Metaphors" luận giải sự phát triển tư tưởng học tập phương Tây cuối thời kỳ Tokugawa; George Sansom (1990) trong "Lịch sử văn hóa Nhật Bản"; Ienaga Saburou (2003) trong "Văn hóa sử Nhật Bản".
- Nhóm học giả Việt Nam: Vĩnh Sính (1990) trong "Nhật Bản cận đại" nhận định Fukuzawa Yukichi là người có ảnh hưởng lớn nhất trong việc truyền bá tư tưởng phương Tây ở Nhật thời Minh Trị; Đào Trinh Nhất (2015) trong "Nhật Bản Duy Tân 30 năm" đánh giá ba hoạt động dạy học, làm sách, viết báo của ông đã tạo dựng uy thế xã hội to lớn đối với triều đình và quốc dân.
Thứ hai, các công trình đề cập đến tư tưởng cải cách giáo dục của Fukuzawa Yukichi:
- Học giả Nhật Bản: Komuro Masaki chủ biên (2013) trong "Fukuzawa Yukichi và Nhật Bản cận đại" với các chương nghiên cứu của Yoneyama Mitsunori khẳng định sự chuyển biến từ suy nghĩ giáo dục là phương tiện phú quốc cường binh sang tư tưởng "độc lập cá nhân" trong "Khuyến học" và so sánh với "Sắc lệnh giáo dục"; Kawahara Miyako (1970) trên Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục làm rõ quan điểm thực học và tư tưởng cá nhân độc lập là đơn vị cơ bản của quốc gia độc lập; Fujita Tomoji (2002) trên Tạp chí Kinh tế Đại học Osaka phân tích mục tiêu giáo dục hướng tới độc lập tự tôn, tôn trọng tự do và ngôn luận; Kozumi Takashi (1990) với bài viết "Thuyết học vấn của Fukuzawa Yukichi"; Usui Mineo (1971) với bài viết "Thuyết Thiên Hoàng và Thuyết giáo dục của Fukuzawa Yukichi".
- Học giả nước ngoài: Margaret Hehl (2003) nghiên cứu sự chuyển đổi của các trường tư thục Hán học sang mô hình trường Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku); Herbert Passin (1982) trong "Society and Education in Japan" phân tích vai trò của cải cách giáo dục thời Minh Trị; Mengchen Zhang (2013) xem xét quá trình phát triển giáo dục đại học tư thục cuối thời Tokugawa và đầu thời Minh Trị.
- Học giả Việt Nam: Nguyễn Tiến Lực (2010, 2013) nghiên cứu so sánh tư tưởng cải cách giáo dục của Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ, chỉ ra sự tương đồng trong việc phê phán hư học và chủ trương thực học; Nguyễn Việt Phương (2011) phân tích tư tưởng giáo dục khai sáng trong "Khuyến học"; Vũ Dương Ninh chủ biên (2007) trong công trình nghiên cứu phong trào cải cách ở một số nước Đông Á giữa thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.
Thứ ba, các công trình đề cập đến tư tưởng cải cách ngoại giao và cải cách Nhà nước của Fukuzawa Yukichi:
- Học giả Nhật Bản: Watanabe Naoki (2003) phân tích xung đột giữa Nho giáo và chủ nghĩa văn minh phương Tây, làm rõ thảo luận song song về bình đẳng con người và bình đẳng quốc gia; Ogawara Masamichi (2012) trong "Tư tưởng chính trị của Fukuzawa Yukichi" phân tích tư tưởng nghị viện, Hiến pháp, Thiên Hoàng và ngoại giao quốc tế dựa trên điều ước ràng buộc; Tokura Keyuki (trong sách của Komuro Masaki, 2013) chỉ ra ba đặc trưng tư tưởng chính trị của Fukuzawa là thúc đẩy tranh luận, hòa hợp giữa dân và chính quyền, tương đối hóa chính trị, cùng hai góc nhìn dài hạn và ngắn hạn trong "Thoát Á luận"; Noriyuki Ishii (2012) nghiên cứu chủ nghĩa quốc tế và quan điểm bắt kịp phương Tây để bảo vệ chủ quyền.
- Học giả nước ngoài: Khu Kiến Anh (1989) so sánh "Lân Thảo" của Kato Hiroyuki và "Tây dương sự tình" của Fukuzawa Yukichi; Helen M. Hopper (2005) trong "Fukuzawa Yukichi: from Samurai to Capitalist"; Macfarlane (2002) trong "Fukuzawa Yukichi and the making of the modern world".
- Học giả Việt Nam: Nguyễn Tiến Lực trong "Nhật Bản - Những bài học từ lịch sử" dành 3 trang tóm tắt quan điểm của Fukuzawa về xây dựng nền chính trị dân quyền, tăng cường quyền lực nhân dân và tổ chức tổng tuyển cử.
Thứ tư, các công trình nghiên cứu từ các phương diện khác:
- Nguyễn Tiến Lực (1995) trên Tạp chí Triết học tóm tắt 5 tư tưởng khai sáng của Fukuzawa Yukichi; Trần Thị Hạnh (2011) phân tích tư tưởng về con người mới (bình đẳng, độc lập, có học vấn, có trách nhiệm); Alpha Books dịch (2012) khái quát cuộc đời và sự nghiệp giáo dục của ông; Toshiko Nakamura (2007) khảo cứu tư tưởng về gia đình và lịch sử văn minh; Matthew Jones (2015) so sánh lý thuyết văn minh của Fukuzawa Yukichi và Tôn Trung Sơn (Sun Yat-sen).
Về khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Tác giả nhận định các công trình đi trước chủ yếu tập trung vào tư tưởng cải cách giáo dục, trong khi tư tưởng cải cách thể chế Nhà nước (Nhà nước pháp quyền, dân quyền) và ngoại giao chưa được khái quát, luận giải một cách có hệ thống dưới góc độ triết học. Đồng thời, tại Việt Nam chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện hệ thống tư tưởng của Fukuzawa Yukichi trên cả ba lĩnh vực giáo dục, Nhà nước và ngoại giao, gắn kết với sự ảnh hưởng đối với phong trào Canh tân Việt Nam đầu thế kỷ XX và rút ra các bài học gợi mở cho công cuộc đổi mới hiện nay. Luận án được xây dựng nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích và đánh giá tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi như một đại diện tư tưởng thời cận đại, đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể của Nhật Bản thời kỳ Minh Trị và nghiên cứu trực tiếp thông qua các văn bản tác phẩm của ông.
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án sử dụng các phương pháp định tính của chuyên ngành Lịch sử Triết học kết hợp với các thao tác nghiên cứu khoa học xã hội:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử Triết học: Nghiên cứu tư tưởng cải cách thời kỳ Minh Trị Duy tân dưới góc độ triết học, so sánh với giai đoạn trước đó để xác định nội dung tiếp thu hay phê phán; từ đó làm rõ giá trị của tư tưởng đối với tiến trình phát triển của Nhật Bản thời Minh Trị cũng như giá trị gợi mở đối với Việt Nam.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích nhận thức và hoạt động thực tiễn của Fukuzawa Yukichi để khái quát các nội dung cải cách căn bản về giáo dục, Nhà nước và ngoại giao; đồng thời phân tích sự tương đồng, khác biệt trong bối cảnh lịch sử cận đại của Nhật Bản và Việt Nam nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu bối cảnh lịch sử cận đại giữa Nhật Bản và Việt Nam; so sánh tư tưởng của Fukuzawa Yukichi với các nhà tư tưởng Nhật Bản đương thời (Kato Hiroyuki) và các nhà cải cách khu vực (Nguyễn Trường Tộ, Tôn Trung Sơn).
- Phương pháp lôgíc - lịch sử: Tìm hiểu quy luật vận động và sự chuyển biến tư tưởng của tác giả đặt trong tiến trình cải cách tổng thể của Nhật Bản trên các lĩnh vực giáo dục và Nhà nước.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp Triết học với Đông phương học, Sử học, Văn hóa học, Chính trị học và Giáo dục học nhằm tiếp cận đối tượng một cách toàn diện.
Về nguồn tư liệu gốc, Fukuzawa Yukichi để lại hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại, được tập hợp đầy đủ nhất trong bộ Toàn tập gồm 21 tập do Đại học Keio Gijuku biên tập và xuất bản từ năm 1958 đến năm 1964. Trong điều kiện tài liệu tại Việt Nam, luận án khai thác các văn bản tiêu biểu bằng tiếng Nhật, tiếng Anh và các bản dịch tiếng Việt:
- "Tây dương sự tình" (viết năm 1866 và 1867): Gồm 2 cuốn; cuốn đầu ghi chép phong tục tập quán, chế độ xã hội phương Tây và chọn lọc 4 lĩnh vực trọng điểm gồm lịch sử, chính trị, hải quân, tài chính công; cuốn hai dịch tóm lược kinh tế học từ các ấn phẩm giáo dục của Anh và bổ sung nguyên lý văn minh, quyền con người, hệ thống thuế.
- "Khuyến học" (viết từ năm 1872 đến năm 1876): Gồm 17 chương; nội dung phê phán lối học không thực dụng ("hư học"), chủ trương "thực học" và phương pháp độc lập suy nghĩ.
- "Khái lược về văn minh" (viết năm 1875): Tác phẩm trọng tâm phân tích ba nấc thang văn minh (phương Tây đạt trình độ văn minh, Nhật Bản đang ở giai đoạn bán văn minh), khẳng định muốn tiến lên văn minh thì Nhật Bản phải bảo vệ độc lập dân tộc và tiếp thu văn minh phương Tây.
- "Thoát Á luận" (năm 1885): Bài báo 2.000 chữ đăng trên tờ Thời sự tân báo, phân tích nguy cơ ngoại xâm và tình trạng lạc hậu do tàn dư phong kiến, xác định tính tất yếu của việc thoát khỏi vòng kiềm tỏa của tư tưởng Hán học truyền thống để bước vào con đường văn minh.
- "Phúc Ông tự truyện" (viết năm 1899): Tập tự truyện miêu tả cuộc đời tác giả từ thời thiếu niên và bức tranh xã hội phong kiến Nhật Bản, phản ánh quá trình chuyển biến tư tưởng cải cách của ông.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về Fukuzawa Yukichi theo 4 nhóm vấn đề chính: lịch sử tư tưởng Nhật Bản, cải cách giáo dục, cải cách Nhà nước và ngoại giao, cùng các góc nhìn nghiên cứu khác. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước đã làm rõ nhiều nét về tiểu sử, trước tác và vai trò cải cách giáo dục của ông, song mảng tư tưởng về thể chế Nhà nước pháp quyền, dân quyền và ngoại giao chưa được nghiên cứu hệ thống dưới góc độ triết học. Chương này xác lập cơ sở để luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó và định hình nhiệm vụ giải quyết khoảng trống học thuật trong các chương tiếp theo.
Chương 2: Bối cảnh ra đời tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi
Chương 2 làm rõ bối cảnh khách quan và nhân tố chủ quan thúc đẩy sự hình thành tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi qua các bình diện kinh tế - xã hội, văn hóa - tư tưởng và cuộc đời, sự nghiệp của tác giả.
Về bối cảnh quốc tế, giữa thế kỷ XIX, các nước thực dân phương Tây đẩy mạnh xâm lược châu Á, buộc triều đình Mãn Thanh ký Hiệp ước Nam Kinh (1842), buộc Xiêm ký hiệp ước năm 1855 và 1856. Tại Nhật Bản, chính sách "tỏa quốc" (Sakoku) của Mạc Phủ sụp đổ khi Đô đốc Perry dẫn tàu chiến Mỹ cập cảng Uraga năm 1853 và tiếp tục đến năm 1856 để ký Điều ước thân thiện Mỹ - Nhật. Năm 1858, "Ngũ quốc điều ước" được ký kết giữa Nhật Bản với Mỹ, Hà Lan, Nga, Anh, Pháp; buộc mở các cảng biển Kanagawa, Nagasaki, Yokohama, Niigata, Hyogo, Hakodate và mở chợ tự do tại Edo và Osaka. Quy chế thuế quan do các nước phương Tây quyết định với mức bất bình đẳng: thuế xuất khẩu sang Mỹ là 5%, nhập khẩu là 20%, hàng hóa cung cấp cho hải quân Mỹ tại Yokohama, Nagasaki, Hakodate được miễn thuế. Nguy cơ mất chủ quyền đã đặt ra yêu cầu tất yếu phải cải cách đất nước.
Về bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước thời Edo, Nhật Bản duy trì cơ chế Mạc - Phiên (Baku - Han) với 265 Phiên do các Đại danh (Daimyo) đứng đầu, phân chia thành ba hạng: Thân phiên (Shinpan), Phổ đại (Fudai) và Ngoại dạng (Tozama). Các Tozama Daimyo nắm tiềm lực kinh tế lớn, chiếm khoảng 40% tổng thu nhập sản lượng lương thực cả nước. Năng suất lao động nông nghiệp tăng từ 19,7 triệu koku (năm 1600) lên 46,8 triệu koku (năm 1870, với 1 koku tương đương 120 kg). Chính sách luân phiên trình diện (Sankinkoutai) buộc các lãnh chúa tốn kém chi phí đi lại, gián tiếp thúc đẩy kinh tế hàng hóa địa phương; khoảng 80% người làm nông chuyển từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa. Chợ gạo Osaka trở thành trung tâm tài chính ngân hàng phát hành hối phiếu, chứng từ thanh toán. Mạng lưới giao thông gồm 5 tuyến quốc lộ chính phát triển mạnh. Tuy nhiên, sự phát triển này làm phân hóa sâu sắc tầng lớp võ sĩ: võ sĩ thượng lưu mất nguồn tài chính, võ sĩ hạ lưu phải làm nghề phụ rồi chuyển sang làm thợ thủ công hoặc tiểu tư sản bàn giấy. Mâu thuẫn xã hội gay gắt dẫn đến 2.089 cuộc đấu tranh của nông dân trong giai đoạn từ năm 1590 đến năm 1867. Các cuộc cải cách của Mạc Phủ như Kyouho (1716-1745 / văn bản ghi 1746-1745), Kansei (1789-1801), Tempo (1841-1843) đều thất bại, chứng tỏ sự bất lực của thể chế cũ.
| Chỉ số / Dữ kiện lịch sử thời Edo - Minh Trị |
Giá trị / Nội dung ghi nhận trong luận án |
| Số lượng Phiên (Han) toàn quốc |
265 Phiên |
| Tỷ lệ sản lượng lương thực do Tozama Daimyo nắm |
Khoảng 40% tổng sản lượng cả nước |
| Năng suất nông nghiệp năm 1600 |
19,7 triệu koku (1 koku = 120 kg) |
| Năng suất nông nghiệp năm 1870 |
46,8 triệu koku |
| Tỷ lệ nông dân tham gia sản xuất hàng hóa |
Khoảng 80% |
| Số cuộc đấu tranh của nông dân (1590 - 1867) |
2.089 cuộc |
| Thuế quan theo điều ước thương mại với Mỹ (1858) |
Xuất khẩu 5%, nhập khẩu 20% (miễn thuế hàng quân sự Mỹ) |
Về bối cảnh văn hóa - tư tưởng, xã hội tồn tại hai khuynh hướng: văn hóa Samurai (chú trọng Nho học) và văn hóa Chonin của thị dân (sáng tạo thơ Haiku 17 âm theo cấu trúc 5-7-5, tuồng Kabuki, tranh khắc gỗ). Về học thuật, bên cạnh Tống Nho chính thống của Chu Tử học phái (do Hayashi Razan đứng đầu), xuất hiện phái Cổ học (Yamaga Sogo, Ito Jinzai, Ogyu Sorai), Quốc học (Keichu, Kamo no Mabuchi, Motori Norigata), Hà Lan học (Rangaku ra đời từ năm 1720 tại Nagasaki, bác sĩ Siebold truyền dạy y khoa), Tây học (Yogaku), cùng các luồng tư tưởng Khai sáng phương Tây (Grotius, Spinoza, Locke, Voltaire, Rousseau, Darwin). Sự đối kháng tư tưởng diễn ra mạnh mẽ giữa phái Tây học và phái Nhượng di (phân chia thành phái Tá Mạc ở Edo và phái Cần Vương ở Kyoto).
Về con người và sự nghiệp, Fukuzawa Yukichi sinh ngày 10 tháng 1 năm 1835 tại Nakatsu (đảo Kyushu) trong một gia đình võ sĩ cấp thấp, mất ngày 3 tháng 2 năm 1901 tại Mita vì xuất huyết não (hưởng thọ 66 tuổi), an táng tại chùa Hongang-Ji (pháp danh Daikanin Dokuritsu Jison Koji). Cha ông là Fukuzawa Hakusuke (1792-1836), mẹ là Ojun (?-1874). Năm 1862, ông kết hôn với con gái thứ hai của nhà võ sĩ Toki Tarohachi, có 9 người con (4 trai, 5 gái; con trai thứ hai Sutejiro sau này hỗ trợ ông phát hành tờ Thời sự tân báo). Năm 14-15 tuổi, ông học Hán học với Shiraishi Tetsuno, đọc cuốn "Tả truyện" 11 lần. Năm 19 tuổi (1854), ông đến Nagasaki học tiếng Hà Lan và kỹ thuật pháo binh. Tháng 3 năm 1855, ông học tại trường Tekijuku của Ogata Koan ở Osaka. Tháng 10 năm 1858, ông mở trường Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) tại Edo. Năm 1873, ông cùng các đồng chí thành lập hội Minh Lục Xã (Meirokusha) gồm 10 thành viên ban đầu.
| Chuyến xuất dương khảo sát |
Thời gian |
Điểm đến và hoạt động ghi nhận trong văn bản |
| Chuyến đi thứ nhất |
1860 |
Tới Hoa Kỳ (San Francisco, Washington D.C, New York) trên tàu Kimura Kaishu để phê chuẩn hiệp ước thông thương Nhật - Mỹ. |
| Chuyến đi thứ hai |
1861 - 1862 |
Tới châu Âu qua ngả Hong Kong, Ấn Độ, kênh đào Suez; lưu trú 44 ngày ở Anh, 42 ngày ở Pháp, 20 ngày ở Đức, 35 ngày ở Hà Lan, 20 ngày ở Bồ Đào Nha, 46 ngày ở Nga. |
| Chuyến đi thứ ba |
1867 |
Quay trở lại Hoa Kỳ để khảo sát thực tế. |
Chương 3: Tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi
Chương 3 trình bày hệ thống tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi trên ba phương diện chính:
Về tư tưởng cải cách giáo dục, ông đả phá lối học từ chương, kinh viện của Hán học ("hư học"), chủ trương xây dựng nền "thực học" (Jitsugaku) gắn với đời sống thực tế, khoa học tự nhiên, toán học và vật lý. Mục đích của giáo dục là đào tạo những con người độc lập, tự chủ, có tinh thần "độc lập tự tôn", bởi lẽ độc lập của mỗi cá nhân là đơn vị nền tảng để tạo nên một quốc gia độc lập. Giáo dục phải bồi dưỡng "năng lực lựa chọn", giúp người dân thoát khỏi trạng thái vị thành niên và tự chịu trách nhiệm về tư duy cũng như hành động của bản thân.
Về tư tưởng cải cách Nhà nước, Fukuzawa Yukichi chủ trương xây dựng nền chính trị dân quyền, xây dựng nhà nước bằng Hiến pháp. Ông quan niệm Hiến pháp là công cụ pháp lý quang minh để phân định ranh giới giữa trị và loạn ("hợp Hiến ấy là trị mà phản Hiến ấy là loạn"). Bản chất của Hiến pháp là ràng buộc quyền lực của bộ máy lãnh đạo, bảo đảm quyền tự do và quyền lợi cơ bản của nhân dân. Ông cổ vũ cho việc thiết lập chế độ nghị viện thông qua tổng tuyển cử, trao quyền tham gia lập pháp và quyền thảo luận ngân sách nhà nước cho nhân dân, hướng tới sự hòa hợp giữa chính quyền và người dân, đồng thời thực hiện nguyên tắc tương đối hóa chính trị.
Về tư tưởng cải cách ngoại giao, ông xác lập quan niệm ngoại giao quốc tế hiện đại dựa trên sự bình đẳng về quyền lợi giữa các quốc gia, không phụ thuộc vào tương quan mạnh yếu thực tế. Quan hệ bang giao phải được ràng buộc bằng các điều ước quốc tế và việc phái cử cơ quan đại diện ngoại giao (bộ trưởng, lãnh sự). Trong tác phẩm "Thoát Á luận" (1885), ông phân tích tình thế của Nhật Bản và chủ trương dứt khoát thoát khỏi sự kiềm tỏa của tư tưởng phong kiến Á Đông truyền thống (cụ thể là Hán học) để tiếp thu văn minh phương Tây. Tư tưởng này phản ánh tầm nhìn kép: dài hạn là đưa Nhật Bản vươn lên nấc thang văn minh để sánh vai cùng các cường quốc, ngắn hạn là đối sách thực tế bảo vệ chủ quyền quốc gia trước nguy cơ xâm lược.
Chương 4: Một số giá trị của tư tưởng cải cách Fukuzawa Yukichi
Chương 4 phân tích giá trị tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi trên ba bình diện:
- Giá trị đối với chính sách cải cách của chính quyền Minh Trị: Các luận điểm của ông về thực học và mở mang dân trí đã được Bộ Giáo dục và chính phủ Minh Trị tiếp thu trong việc cải cách hệ thống giáo dục quốc gia; tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền, lập hiến và mở cửa hội nhập đã tạo tiền đề lý luận quan trọng cho sự thành công của công cuộc Duy tân Minh Trị.
- Giá trị đối với phong tràu Canh tân Việt Nam đầu thế kỷ XX: Tư tưởng của Fukuzawa Yukichi đã tác động mạnh mẽ đến các sĩ phu yêu nước Việt Nam (trong phong trào Duy Tân, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục), thức tỉnh nhận thức về yêu cầu bài trừ hư học, truyền bá thực nghiệp, nâng cao dân trí và khẳng định tinh thần tự cường dân tộc.
- Giá trị gợi mở đối với Việt Nam hiện nay: Cung cấp bài học kinh nghiệm trong việc đổi mới căn bản giáo dục - đào tạo; gợi mở yêu cầu hoàn thiện thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (minh bạch hóa quyền lực, kiểm soát ngân sách, phòng chống tham ô tham nhũng); và gợi mở chiến lược ngoại giao đa phương hóa, mềm dẻo, linh hoạt để bảo vệ lợi ích và độc lập dân tộc trong bối cảnh quốc tế phức tạp.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận và thực tiễn, luận án xác định các đóng góp mới cụ thể:
- Phân tích và hệ thống hóa tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi trên ba lĩnh vực nổi bật dưới góc độ Triết học: giáo dục, Nhà nước và ngoại giao.
- Đánh giá các giá trị tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi đối với cải cách Nhật Bản thời kỳ Minh Trị và đối với phong trào Canh tân ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.
- Rút ra một số ý nghĩa và bài học gợi mở đối với Việt Nam hiện nay trên ba phương diện then chốt: đổi mới giáo dục, hoàn thiện thể chế Nhà nước pháp quyền và chiến lược ngoại giao.
Về kiến nghị và giải pháp đề xuất, từ kết quả nghiên cứu tư tưởng của Fukuzawa Yukichi, luận án nêu lên các hàm ý thực tiễn:
- Đối với lĩnh vực giáo dục: Chuyển đổi căn bản phương pháp giáo dục từ truyền thụ kiến thức kinh viện sang nền giáo dục "thực học", chú trọng khoa học kỹ thuật, tư duy độc lập và năng lực lựa chọn của người học; đào tạo đội ngũ nhân lực có trách nhiệm xã hội và tinh thần tự tôn.
- Đối với lĩnh vực Nhà nước: Xây dựng và hoàn thiện thể chế Nhà nước pháp quyền; quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; mở rộng quyền tham gia và giám sát của nhân dân đối với cơ quan công quyền, đặc biệt là quyền giám sát ngân sách nhà nước nhằm ngăn chặn tình trạng tham ô, tham nhũng.
- Đối với lĩnh vực ngoại giao: Hoạch định chiến lược ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt; kiên định mục tiêu giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia trên cơ sở tôn trọng và vận dụng luật pháp quốc tế, các hiệp định và điều ước quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án thừa nhận trong điều kiện hạn hẹp về nguồn tư liệu nguyên bản tại Việt Nam, tác giả chưa thể tiếp cận toàn diện kho tàng hơn 100 tác phẩm trong bộ Toàn tập 21 tập của Fukuzawa Yukichi. Nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích tư tưởng của ông thông qua các tác phẩm tiêu biểu nhất ("Tây dương sự tình", "Khuyến học", "Khái lược về văn minh", "Thoát Á luận", "Phúc Ông tự truyện") bằng tiếng Nhật, tiếng Anh và một số bản dịch tiếng Việt. Phạm vi khảo sát giới hạn ở ba lĩnh vực giáo dục, Nhà nước và ngoại giao trong thời kỳ Minh Trị (1868-1912) và ảnh hưởng đến Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án mở ra hướng tiếp tục khai thác các tác phẩm chưa được dịch của Fukuzawa Yukichi trong bộ Toàn tập tại Đại học Keio Gijuku để nghiên cứu sâu rộng hơn các quan điểm kinh tế học, đạo đức học và xã hội học gia đình của ông; đồng thời đẩy mạnh các công trình so sánh liên quốc gia giữa tư tưởng Fukuzawa Yukichi với các nhà tư tưởng cải cách khác ở châu Á trong giai đoạn cận đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng và lĩnh vực nghiên cứu:
- Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên các chuyên ngành Triết học, Lịch sử Triết học, Đông phương học, Nhật Bản học và Lịch sử thế giới: Luận án cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử tư tưởng chi tiết về thời kỳ Duy tân Minh Trị và cuộc đời Fukuzawa Yukichi.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách giáo dục, chính trị học và ngoại giao: Các luận điểm về giáo dục thực học, thể chế nhà nước pháp quyền và chiến lược ngoại giao đa phương hóa mang lại các gợi mở tham khảo trong công cuộc đổi mới đất nước.
Các phần nội dung đáng tham khảo nhất trong luận án gồm: Chương 1 với danh mục tổng quan phong phú các công trình nghiên cứu tiếng Nhật, tiếng Anh và tiếng Việt; Chương 2 với hệ thống số liệu kinh tế - xã hội thời kỳ Mạc Phủ; Chương 3 với khung phân tích triết học về mối quan hệ giữa độc lập cá nhân và độc lập quốc gia; và Chương 4 với những phân tích đối chiếu lịch sử tư tưởng giữa Nhật Bản và Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
-
Fukuzawa Yukichi xác định mục đích cốt lõi của cải cách giáo dục là gì và giải pháp chủ yếu là gì?
Trong văn bản luận án, Fukuzawa Yukichi chủ trương xóa bỏ lối học kinh viện giáo điều của Hán học ("hư học") và thay thế bằng nền "thực học" (Jitsugaku) gắn liền với khoa học tự nhiên, toán học và vật lý phương Tây. Mục đích căn bản của giáo dục là khơi dậy tinh thần "độc lập tự tôn", xây dựng mỗi cá nhân trở thành một đơn vị độc lập cả trong suy nghĩ và hành động, bởi cá nhân độc lập chính là nền tảng tất yếu để hình thành một quốc gia độc lập.
-
Luận án trích dẫn quan điểm của Fukuzawa Yukichi về vai trò của Hiến pháp trong việc quản lý Nhà nước như thế nào?
Theo trích dẫn trong luận án từ nghiên cứu của Ishida Kazuyoshi và Ogawara Masamichi, Fukuzawa Yukichi quan niệm một xã hội khai hóa phải có nền chính trị quang minh xây dựng bằng Hiến pháp để phân định rõ thế trị và thế loạn ("hợp Hiến ấy là trị mà phản Hiến ấy là loạn"). Bản chất của Hiến pháp là ràng buộc bộ máy lãnh đạo và nhân dân, đảm bảo quyền tự do của nhân dân, thừa nhận quyền tham gia lập pháp tại nghị viện và quyền thảo luận ngân sách nhà nước.
-
Nội dung và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm "Thoát Á luận" (1885) được luận án trình bày ra sao?
"Thoát Á luận" thực chất là một bài báo dài 2.000 chữ được Fukuzawa Yukichi đăng trên tờ Thời sự tân báo (Jiji Shimpo) năm 1885. Tác phẩm phân tích tình thế của Nhật Bản trước nguy cơ bị ngoại xâm và tình trạng trì trệ do tàn dư phong kiến, từ đó khẳng định tính tất yếu của việc Nhật Bản phải thoát khỏi sự kiềm tỏa của tư tưởng Hán học và mô hình phong kiến Á Đông truyền thống để tiếp thu văn minh phương Tây, bảo vệ độc lập dân tộc.
-
Những chuyến đi khảo sát nước ngoài nào đã trực tiếp hình thành nên tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi?
Văn bản luận án ghi nhận Fukuzawa Yukichi đã thực hiện ba chuyến đi nước ngoài: Lần thứ nhất năm 1860 tới Hoa Kỳ (San Francisco, Washington D.C, New York) trên tàu Kimura Kaishu; lần thứ hai vào năm 1861-1862 đi châu Âu qua ngả Hong Kong, Ấn Độ, kênh đào Suez (lưu trú 44 ngày ở Anh, 42 ngày ở Pháp, 20 ngày ở Đức, 35 ngày ở Hà Lan, 20 ngày ở Bồ Đào Nha, 46 ngày ở Nga); và lần thứ ba vào năm 1867 quay trở lại Hoa Kỳ.
-
Những số liệu kinh tế - xã hội nào thời kỳ Mạc Phủ được luận án trích dẫn để minh chứng cho nhu cầu cải cách tất yếu của Nhật Bản?
Luận án dẫn chứng: Nhật Bản được chia thành 265 Phiên; các Tozama Daimyo chiếm khoảng 40% tổng thu nhập sản lượng lương thực cả nước; năng suất nông nghiệp tăng từ 19,7 triệu koku (năm 1600) lên 46,8 triệu koku (năm 1870, với 1 koku tương đương 120 kg); khoảng 80% nông dân chuyển sang sản xuất hàng hóa; từ năm 1590 đến năm 1867 nổ ra 2.089 cuộc đấu tranh của nông dân; các cuộc cải cách phong kiến Kyouho, Kansei, Tempo đều thất bại.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Triết học của tác giả Nguyễn Minh Nguyên đã nghiên cứu có hệ thống tư tưởng cải cách của Fukuzawa Yukichi dưới góc độ lịch sử triết học, tập trung vào ba trụ cột cốt lõi là giáo dục, Nhà nước và ngoại giao. Công trình đã phân tích sâu sắc các nhân tố kinh tế, xã hội, văn hóa thời kỳ Edo và các chuyến khảo sát phương Tây hình thành nên tư tưởng của tác giả, đồng thời đánh giá vai trò của hệ thống tư tưởng này đối với sự phát triển của Nhật Bản thời kỳ Minh Trị. Luận án cũng chỉ rõ giá trị lan tỏa của tư tưởng Fukuzawa Yukichi đối với phong trào Canh tân Việt Nam đầu thế kỷ XX, từ đó đúc kết những bài học lý luận và thực tiễn có ý nghĩa gợi mở cho công cuộc đổi mới giáo dục, xây dựng Nhà nước pháp quyền và mở rộng quan hệ đối ngoại ở Việt Nam hiện nay.