Chương 1: TÁC PHẨM “ÉMILE HAY LÀ VỀ GIÁO DỤC” VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI QUAN NIỆM CỦA J.ROUSSEAU VỀ GIÁO DỤC 1. Bối cảnh và những tiền đề lý luận cho sự ra đời quan niệm của J. Rousseau về giáo dục 1.1 Bối cảnh nước Pháp thế kỷ XVIII Tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Pháp thế kỷ XVIII có nhiều thay đổi và diễn biến phức tạp: Về kinh tế, trong khi nước Anh tiến mạnh trên con đường công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa, thì Pháp vẫn là một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Các phương thức sở hữu và canh tác phong kiến cũ kỹ, công cụ sản xuất lạc hậu, năng suất lao động đặc biệt thấp, nạn mất mùa xảy ra thường xuyên.
Nhìn chung, ở Pháp, trước cách mạng tư sản, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở nông thôn còn khá yếu. Ở lĩnh vực công nghiệp, có sự phát triển hơn so với nông nghiệp, nhiều công trường thủ công ra đời, máy móc được cải tiến, số lượng công nhân tăng lên và có sự chuyên môn hoá cao. Tuy nhiên, chế độ phong kiến với những đạo luật của nó vẫn giữ địa vị thống trị trong xã hội. Về chính trị, vào thế kỷ XVIII, nước Pháp trở thành vũ đài của cuộc đấu tranh gay gắt giữa chế độ phong kiến đã trở nên lỗi thời và chủ nghĩa tư bản đang hình thành, phát triển trong lòng nó.
Với sự phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã kịp thời trở thành một lực lượng kinh tế hùng hậu. Trong khi đó, toàn bộ quyền lực vẫn tiếp tục nằm trong tay tầng lớp phong kiến thống trị. Phong trào phản phong ngày càng lớn mạnh, 10 z nhằm thủ tiêu quan hệ sản xuất phong kiến và thiết lập chế độ xã hội mới tư bản chủ nghĩa. Giai cấp tư sản đã trở thành lực lượng đại diện cho lợi ích của những người bị áp bức trong chế độ phong kiến.
Về xã hội, xã hội Pháp thế kỷ XVIII có sự phân chia thành những đẳng cấp với quyền và nghĩa vụ khác nhau. Do vậy, mâu thuẫn giữa các đẳng cấp trở nên hết sức gay gắt (tăng lữ, quý tộc, và tất cả những tầng lớp còn lại như: nông dân, thợ thủ công, bình dân thành thị, công nhân, trí thức,.chiếm đa số trong xã hội, trong đó nổi trội nhất là giai cấp tư sản). Trong thế kỷ XVIII, giai cấp tư sản Pháp gặp nhiều thuận lợi trên con đường phát triển của nó, tiếp tục phát triển và leo thang; thế lực chính trị, kinh tế, xã hội của họ ngày càng tăng lên. Sự phát triển ấy cũng làm cho ý thức giai cấp của họ ngày càng bộc lộ rõ nét.
Về tư tưởng, lý luận, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Pháp đã sản sinh ra một số nhà tư tưởng, đại biểu cho giai cấp tư sản đang lên. Đó là những nhà triết học duy vật Pháp ở thế kỷ XVIII. Đứng trên lập trường duy vật máy móc, họ đánh giá quá cao ảnh hưởng của hoàn cảnh, cho loài người chỉ là sản phẩm của hoàn cảnh xung quanh và của giáo dục. Trong giáo dục cũng diễn ra sự đấu tranh của giai cấp tư sản với quý tộc và tăng lữ.
Những học giả của giai cấp tư sản lên tiếng công kích chủ nghĩa kinh viện, công kích những quan niệm lỗi thời về văn hoá, giáo dục. Họ đòi cải tổ nền giáo dục và đưa ra những kiến giải mới mẻ về một hệ thống nhà trường dân chủ. Các triết gia Khai sáng Pháp đều thống nhất với nhau ở nhiều điểm, như: đề cao tác dụng của giáo dục, coi trọng thể dục và lao động, yêu cầu nội dung giáo dục sát với thực tế, và những phương pháp khoa học phù hợp với nhận thức của trẻ em, chống chủ nghĩa giáo điều, chống kỷ luật roi vọt,. Những tiền đề lý luận cho sự ra đời quan niệm của J.Rousseau về giáo dục 1.
Quan niệm của một số nhà triết học trước và cùng thời với J.Rousseau về giáo dục I.Comenxki (1592-1670) – nhà giáo dục vĩ đại người Tiệp Khắc. Về mọi mặt, Comenxki đã có những cống hiến rất quý báu cho sự nghiệp giáo dục. Ông thực sự xứng đáng với danh hiệu là thuỷ tổ của nền giáo dục dân chủ nói chung, trong đó có ảnh hưởng đến quan niệm giáo dục của Rousseau thời kỳ “Triết học ánh sáng” thế kỷ XVIII. Trước hết, Comenxki rất tin tưởng vào tác dụng của giáo dục.
Chỉ có giáo dục mới làm cho con người ta trở nên một con người đáng là người. Theo ông, mọi người đều phải học. Ông rất đau xót trước những thiếu sót, những lệch lạc của nền giáo dục đương thời. Bởi thế, cần phải cải tổ hoàn toàn nền giáo dục cũ.
Theo Comenxki, quá trình giáo dục ở nhà trường chia ra làm 4 giai đoạn phù hợp với 4 thời kỳ của tuổi học: trường Mẫu giáo, giáo dục trẻ em trong gia đình cho đến hết 6 tuổi, ở thời kỳ này cần rèn luyện giác quan của trẻ để chúng nhận thức được thế giới bên ngoài, tạo điều kiện cho trẻ được phát triển mọi khả năng của chúng; trường Quốc ngữ dạy trẻ em từ 7 tuổi đến hết 12 tuổi, phải rèn luyện trí tưởng tượng và ký ức cho trẻ; trường La-tinh dạy học sinh từ 13 tuổi đến hết 18 tuổi, phải dạy cho thiếu niên ngữ pháp, tu từ học, biện chứng pháp, toán học, thiên văn, lý luận về âm nhạc, để trau giồi thông minh và óc phán đoán của trẻ; trường Đại học đón những thanh niên từ 18 tuổi đến 24 tuổi, hun đúc ý chí cho thanh niên và dạy cho họ triết học, y học, luật học.,dùng phương pháp đi du lịch để mở rộng tầm mắt của học sinh. Đã từ lâu, trong khắp thế giới, người ta vẫn gọi ông là “ông tổ của nền sư phạm cận đại”, và dĩ nhiên một trong số các nhà triết học, nhà giáo dục học của nền sư phạm cận đại không thể không nhắc đến, đã chịu ảnh hưởng lớn về tư tưởng giáo dục của Comenxki là J. 12 z John Locke (1632-1704) – nhà triết học người Anh. Về phương diện chính trị xã hội, J.Locke là đại biểu của giai cấp tư sản mới lên, bênh vực cho tự do, nhân quyền, tư hữu tài sản.
Ông nhận định rằng loài người trong trạng thái tự nhiên là tự do và bình đẳng. Về phương diện giáo dục, Locke đã đưa ra nhiều kiến giải mới mẻ đối với thời đại của ông. Trước hết, ông cũng rất tin vào tác dụng của giáo dục. Ông phản đối giáo lý của giáo hội, những tư tưởng thế tập của phong kiến.
Với Locke, mục đích của giáo dục là đào tạo những con người phong nhã, có tài năng, hoạt bát, lanh lợi, lịch thiệp, có những đức tính của một thương gia tư sản. Cơ sở của giáo dục là hạnh phúc và lợi ích của mỗi cá nhân. Giáo dục phải đảm bảo cho mỗi người có một thân thể khoẻ mạnh. Ông muốn trẻ em phải có thói quen chịu đựng gian khổ, mệt nhọc, phải tập vượt mọi khó khăn, nguy hiểm.
Cho nên theo ông, không nên cho trẻ mặc ấm quá, cần cho các em ăn mặc giản đơn và tránh những quần áo gò bó cơ thể. Nhi đồng cần sinh hoạt, chơi đùa ở ngoài trời phần lớn thời gian trong một ngày. Trong giáo dục, ông coi trọng thể dục hơn trí dục. Nhìn chung, so với nền giáo dục phong kiến, J.Locke đã đem lại một số kiến giải tiến bộ: ông phủ nhận tư tưởng tiên thiên, coi trọng tác dụng của giáo dục, chú ý đến thể dục, đến lao động bằng chân tay, lên án kỷ luật roi vọt, đề ra những nguyên tắc giảng dạy hợp với tâm lý của trẻ em.
Mặc dù còn có những hạn chế nhất định do đứng trên lập trường giai cấp, nhưng ảnh hưởng của John Locke trong thế kỷ XVIII ở Tây Âu rất rộng lớn đối với các nhà giáo dục, như các nhà duy vật Pháp và Rousseau[Xem: 14, tr. Helvétius (1715-1771) – nhà triết học duy vật Pháp, cũng phủ nhận quan niệm tiên thiên, và cho rằng giáo dục là vạn năng, bằng giáo dục, người ta có thể cải biến tư tưởng con người và nhờ đó cải biến được xã hội. Giáo dục sẽ đào tạo những con người yêu nước, những người biết kết hợp hạnh phúc cá nhân với sự phồn vinh của dân tộc. Giáo dục có thể đào tạo cả những nhân tài.
13 z Ông kiên quyết đấu tranh chống ảnh hưởng của tôn giáo trong nhà trường, và cực lực phản đối sự gò bó của chủ nghĩa kinh viện. Helvétius rất coi trọng tính tích cực và tính tự giác của trẻ em. Tuy còn có nhiều lệch lạc về giáo dục, song Helvéteus đã có công lớn là can đảm tấn công mạnh mẽ vào thành luỹ kiên cố của phong kiến và tăng lữ. So với đương thời, những kiến giải của ông về giáo dục có những tiến bộ nhất định[Xem: 14, tr.
Như vậy có thể nhận định rằng, hoà chung với hơi thở của thời đại, trước sự biến đổi về kinh tế, chính trị, xã hội trong xã hội đương thời, thì tư tưởng giáo dục của các triết gia phương Tây cũng có những biến đổi rõ nét. Họ đã cởi trói cho giáo dục thoát khỏi những xiềng xích của chủ nghĩa kinh viện, và đặt giáo dục trên một cơ sở mới là chủ nghĩa nhân văn. Nếu như nền giáo dục phong kiến chỉ nhằm đào tạo ra những con người an thân thủ phận, tuân theo triệt để lãnh chúa, thì ánh sáng của thời kỳ Phục hưng - cận đại đã đề cao giá trị của con người. Với Rousseau, quan niệm về giáo dục trong Émile hay là về giáo dục – đó là những kiến giải hoàn toàn mang tính chủ quan của ông, song những điều đó ít nhiều chịu sự tác động từ những tư tưởng giáo dục của các tiền bối khi luận bàn về giáo dục.
Nói cách khác, Rousseau đã kế thừa một cách sắc sảo những quan niệm giáo dục của một số triết gia phương Tây cho quan niệm của ông về giáo dục. Sẽ là không đầy đủ khi luận bàn về tiền đề tư tưởng, lý luận cho sự ra đời quan niệm giáo dục của Rousseau mà lại không đề cập đến ảnh hưởng của tinh thần chung trong toàn bộ phong trào Khai sáng. Tư tưởng Khai sáng là tư tưởng tiến bộ về ý thức hệ, xuất hiện vào thế kỷ XVII, nhất là thế kỷ XVIII, chịu ảnh hưởng lớn từ tư tưởng của các triết gia tiền bối như Spinoza, Pascal, Leibniz, Galileo, Newton,. “Ánh sáng” trong Triết học Ánh sáng là chỉ đến ánh sáng tự nhiên - để phân biệt với ánh sáng siêu nhiên gắn liền với thần học.