CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Một số khái niệm về từ ngữ và từ ngữ chỉ màu sắc 1. Khái niệm từ: Từ là đơn vị cơ bản trong ngôn ngữ học. Hiện nay, chưa có quan điểm thống nhất về loạiđơn vị này.
Theo Nguyễn Thiện Giáp, “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức”. Định nghĩa trên hàm chứa hai vấn đề cơ bản: a) Vấn đề khả năng tách biệt của từ; b) Vấn đề tính hoàn chỉnh của từ. Khả năng tách biệt của từ trong lời nói, tức là khái niệm tách biệt những từ bên cạnh là không cần thiết để cho từ phân biệt được với những bộ phận tạo thành của từ (thành tố của từ ghép, thân từ, phụ tố,…). Đồng thời tính hoàn chỉnh trong nội bộ từ là cần thiết để cho nó, với tư cách một từ riêng biệt, phân biệt được với cụm từ [8, tr.
Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Từ là một đơn vị hai mặt: mặt ý nghĩa và mặt hình thức. Mặt hình thức theo chúng tôi, là một hợp thể của một số thành phần: thành phần ngữ âm (còn gọi là ngoại biểu), thành phần cấu tạo (còn gọi là cấu trúc của từ) và thành phần ngữ pháp” [5, tr.21] và cũng theo ông, “Để khỏi tham gia vào cuộc tranh luận về vấn đề từ là gì, chúng ta tạm thời chấp nhận định nghĩa sau đây về từ của tiếng Việt: Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu.14] Các tác giả Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học coi từ là đơn vị cấu trúc ngữ nghĩa cơ bản của ngôn ngữ dùng để gọi tên các sự vật và các thuộc tính của chúng, các sự vật các hiện tượng, các quan hệ của thực tiễn, là tổng 7 thể các quan hệ của ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp đặc trưng cho từng ngôn ngữ. Các dấu hiệu đặc trưng của từ là tính hoàn chỉnh, tính có thể phân chia thành các bộ phận và khả năng tái hiện lại dễ dàng trong lời nói. Từ có thể phân chia thành các cấu trúc: cấu trúc ngữ âm của từ, cấu trúc hình thái của từ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ…Cấu trúc hình thái của từ là toàn bộ các hình vị tạo nên từ; cấu trúc ngữ nghĩa của từ là toàn bộ các nghĩa khác nhau của từ” [24, tr.
Khái niệm ngữ Theo Nguyễn Như Ý [23, tr.176]: Kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hư từ cóquan hệ với chúng gắn bó về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái niệm thống nhất và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại khách quan. Đó là một kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hoặc nhiều thực từ trên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc – theo quan hệ phù hợp, chi phối hay liên hợp. Trong một ngữ có từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, gọi là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là thành tố phụ. Thành tố chính của ngữ có thể là danh từ (tạo nên danh ngữ), động từ (tạo nên động ngữ), tính từ (tạo nên tính ngữ).
Ngữ còn được gọi là cụm từ, từ tổ. Ngữ là phương tiện định danh, biểu thị sự vật, hiện tượng quá trình, phẩm chất. Ý nghĩa ngữ pháp của ngữ được tạo nên bằng quan hệ nảy sinh giữa các thực từ kết hợp lại trên cơ sở của một kiểu liên hệ nào đó giữa chúng. Ngữ thường chia ra hai kiểu: ngữ tự do và ngữ không tự do (ngữ cố định).
Ngữ tự do bao gồm những ý nghĩa từ vựng độc lập của tất cả các thực từ tạo thành ngữ; mối liên hệ cú pháp của các yếu tố trong ngữ tự do là mối liên hệ linh hoạt và có sức sản sinh (kiểu như đọc sách). Còn trong ngữ không tự do thì tính độc lập về mặt từ vựng của một hoặc cả hai thành tố bị yếu đi hoặc bị mất và ý nghĩa từ vựng của ngữ trở nên giống như ý nghĩa của một từ riêng biệt (kiểu như vui tính, bền gan, sân bay, đường sắt). Khái niệm về từ ngữ chỉ màu sắc: 1. Khái niệm về màu sắc: Màu sắc là một thuộc tính của vật thể, tồn tại một cách khách quan trong thế giới vật chất mà thị giác con người có thể nhận biết được.
Sự vật có màu sắc khác nhau là do chúng có tần số ánh sáng khác nhau, còn sắc tức là trạng thái màu của sự vật, mỗi màu có sắc thái riêng. Trang web Wikipedia định nghĩa: màu sắc là đặc tính khách quan của thị giác con người. Màu sắc có được do ánh sáng quang phổ tác động vào mắt bằng các trực giác quang phổ của cơ quan hấp thụ ánh sáng. Các loại màu sắc và các chỉ định vật lý của màu sắc cũng có liên quan đến các vật thể, vật liệu, các nguồn sáng…, chúng được dựa vào các đặc tính tự nhiên như sự hấp thụ, sự phản chiếu hoặc là sự phát ra quang phổ.
Đào Thản đã định nghĩa: “ Màu sắc là một thuộc tính của vật thể, tồn tại một cách khách quan trong thế giới vật chất, mà thị giác con người có thể nhận biết được”.[19] Sự nhận thức và phân biệt màu sắc hoàn toàn có thể nhìn nhận từ những góc độ văn hóa khác nhau, có tính chủ quan đối với từng cộng đồng người nhất định. Trong các ngôn ngữ khác nhau người ta phân chia dải màu và ghi nhận các sắc độ, sắc thái về màu sắc theo những cách riêng khác nhau. Vì thế hệ thống tên gọi các màu sắc cũng khác nhau. Vấn đề này được các nhà khoa học và ngôn ngữ quan tâm nghiên cứu.
Màu sắc được thể hiện bằng các danh từ và các tính từ trong hệ thống từ loại, và nhiều nhất là tính từ. Qua khảo sát trong 78 ngôn ngữ khác nhau trên thế giới, B. Kay đã đưa ra nhận xét một cách phổ quát màu sắc cơ bản sau: - Mọi ngôn ngữ cũng có ít nhất hai từ chỉ màu đen và trắng - Nếu có ba từ thì có thêm màu đỏ - Nếu có bốn từ thì có thêm màu xanh lá cây hoặc vàng - Nếu có năm từ thì có thêm xanh lá và vàng 9 - Nếu có sáu từ thì có thêm màu xanh da trời - Nếu có bảy từ thì có thêm màu nâu. - Nếu có trên bảy từ thì có thêm tím, hồng, da cam, xám hoặc hỗn hợp các từ này.
Từ các kết luận trên ta có thể thấy rằng trong sự ghi nhận màu sắc, vấn đề xác định màu cơ bản (màu chính) và màu phụ là một thực tế đặt ra đối với nhiều ngôn ngữ. Tính hệ thống của các từ chỉ màu đòi hỏi phải chỉ ra được màu nào là màu cơ bản và màu nào là màu phụ trong từng ngôn ngữ. Đồng thời cũng phải khẳng định rằng số lượng từ chỉ màu trong các ngôn ngữ không giống nhau, do sự ghi nhận và gọi tên màu sắc không giống nhau. Có những ngôn ngữ chỉ có hai màu và có những ngôn ngữ lại có bảy màu.
Như vậy chỉ có thể nói đến việc xác định màu cơ bản ở từng ngôn ngữ cụ thể. Hơn nữa vấn đề này cũng quan trọng ở những ngôn ngữ có từ chỉ màu phong phú như tiếng Việt. Từ ngữ chỉ màu sắc Từ ngữ chỉ màu sắc là những từ có tính chất miêu tả sự vật hiện tượng mang màu hoặc là cách gọi tên màu sắc của sự vật trong sự so sánhvới sự vật hiện tượng khác. Từ ngữ miêu tả màu vì thế được xem là không mang tính võ đoán và có thể giải thích lý do.
Nhóm từ ngữ này ngoài những tính từ chỉ màu sắc còn có những từ loại như danh từ, thành ngữ chỉ màu sắc. Trong tiếng Việt, có thể chia ra các từ chỉ màu sắc cơ sở, từ chỉ màusắc phái sinh, từ chỉ màu sắc cụ thể. Trên cơ sở từ chỉ màu sắc cơ bản, người Việt thêm yếu tố phụ để tạo ra cụm từ chỉ màu sắc kết hợp với nhau theo kiểu quan hệ chính phụ, đẳng lập. Ví dụ: trắng tinh, trắng muốt, trắng nõn, trắng bạch, trắng toát, trắng ngần, trắng phau, trắng trẻo, trắng xoá… Trong tiếng Pháp, để tạo ra lớp từ chỉ màu phái sinh, người Pháp đã sử dụng yếu tố phụ như: âtre (ví dụ: blanchâtre: trăng trắng); tout (Ví dụ: tout blanc: trắng tinh); 10 issant (Ví dụ:blanchissant: trắng xoá)… Yếu tố phụ này có thể đứng trước hoặc đứng sau từ chỉ màu sắc cơ sở.
Khái niệm từ ngữ chỉ màu sắc phụ trong tiếng Việt Từ ngữ chỉ màu sắc phụ là những từ ngữ được mở rộng,phái sinh từ các từ ngữ chỉ màu cơ bản. Mỗi màu cơ bản được mở rộng theo các hướng khác nhau để phản ánh các dạng cũng như các gam bậc khác nhau của màu cơ bản đó. Một màu cơ bản có thể có hàng chục màu phụ kèm theo. Như vậy, khái niệm màu sắc phụ được sử dụng trong luận văn này bao hàm cả những từ ngữ thường được gọi là từ ngữ chỉ màu sắc phái sinh (đỏ au, đỏ lừ, xanh biếc, xanh thẳm, …) tức là chúng được tạo thành từ yếu tố chỉ màu cơ sở kết hợp với yếu tố chỉ sắc độ và những từ ngữ chỉ màu sắc cụ thể (xanh cổ vịt, xanh nước biển, đỏ bồ quân, đỏ lòng tôm, …) tức là những từ này được tạo thành từ yếu tố chỉ màu cơ sở kết hợp với yếu tố sự vật cụ thể.
Một số vấn đề về ý nghĩa của từ: 1. Khái niệm nghĩa của từ: Nghĩa của từ là quan hệ của từ với cái nằm ngoài bản thân nó. Hiểu nghĩa của một đơn vị nào đó là hiểu đơn vị ấy có quan hệ với cái gì, tức là nó biểu thị cái gì [7, tr. Nghĩa của từ chưa biết, được phát hiện thông qua lời giải thích trong từ điển… là tìm những đơn vị ngôn ngữ tương đương về nghĩa với từ cần giải thích.
Có thể hiểu mối liên hệ giữa từ với cái gì đó nằm ngoài từ qua nhiều ví dụ như việc “trẻ con nắm ngôn ngữ lần đầu tiên thì phải liên hệ âm thanh của từ với sự vật. Trẻ con nắm nghĩa của từ mèo nhờ nghe được âm thanh của từ “mèo” trong những tình huống phát ngôn có hình ảnh cụ thể của con mèo. Dần dần, trong nhận thức của trẻ, âm “mèo” có quan hệ với con mèo nói chung. Điều này cũng giống như việc học và nhận thức về màu sắc của trẻ.