CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Vấn đề cấu tạo từ trong tiếng Việt 1. Đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt: hình vị hay từ tố Trước tiên, từ tố tiếng Việt được phân biệt với hình vị. Theo Nguyễn Thiện Giáp, “từ chưa phải đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ.
Nếu phân tích từ thành những bộ phận nhỏ hơn ta thu được các hình vị (morpheme). Hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa ở trong từ” [35, 204]. Còn theo Đỗ Hữu Châu, “hình vị là hình thái (mang ý nghĩa) lặp đi lặp lại. Nó không thể lại được phân chia thành những hình thái (mang ý nghĩa) nhỏ hơn.
Từ đây rút ra kết luận rằng, cái từ mà ta không thể phân chia được nữa, hay là formant, là một hình vị” [19, 37]. Tiếp đó, Đỗ Hữu Châu đưa ra một số đặc điểm của hình vị tiếng Việt, gồm: - Hình vị những yếu tố nhỏ nhất có thể đi vào trong ba phương thức tạo từ để cho các từ của tiếng Việt trong giao tiếp. - Hình vị có tính chất “lặp đi lặp lại”, đó là hệ quả của tính chất đi vào ba phương thức tạo từ để sản sinh ra từ. - Khi một hình vị có nhiều nghĩa, nó có thể sản sinh ra các từ khác nhau.
Vì vậy, nó phải được xem là các từ khác nhau. - Có những trường hợp cùng một yếu tố vừa là hình vị, vừa có thể là từ do phương thức từ hóa hình vị. - Hình thức ngữ âm của hình vị đa số trùng với âm tiết trong tiếng Việt. - Có một số trường hợp mà trong số các âm tiết của từ có những âm tiết tự thân có nghĩa, tức là đã là hình vị, còn âm tiết còn lại thì không có nghĩa.
- Chức năng quan trọng nhất của hình vị là cấu tạo từ. Ngoài ra, nó cũng có nhiều chức năng khác nhau. Từ tố chính là hình vị trong tiếng Việt. Về việc nảy sinh khái niệm từ tố trong tiếng Việt, chúng tôi đi theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu khi cho rằng: “tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, trừ những hình vị thứ sinh do phương thức láy 9 mà có, hầu như các hình vị đều có những đặc tính cấu tạo từ chung nhất giống nhau, cho nên sẽ dùng thuật ngữ từ tố thay cho thuật ngữ hình vị” [19, 37].
Nói cách khác, hình vị là đơn vị nhỏ nhất của các ngôn ngữ nói chung, còn từ tố là đơn vị tạo từ nhỏ nhất của tiếng Việt nói riêng. Hình vị là thuật ngữ dùng chung cho tất cả các ngôn ngữ trên thế giới, còn từ tố là thuật ngữ thay thế hình vị trong tiếng Việt. Theo Đỗ Hữu Châu, “từ tố là đơn vị tiếng Việt có thể đi vào ba phương thức tạo từ tiếng Việt để cho từ tiếng Việt” [19, 37]. Bởi vậy, từ tố có ba đặc điểm quan trọng là: - Có nghĩa - Nhỏ nhất - Được dùng lặp đi lặp lại trong giao tiếp, tạo câu, tạo phát ngôn.
Đây cũng chính là ba điều kiện căn bản để một âm tiết trở thành từ tố tiếng Việt điển hình. Từ tố tiếng Việt điển hình, thuộc trung tâm là “âm tiết (một âm tiết) có nghĩa (hoặc nằm trong những đơn vị có nghĩa) có khả năng đi vào các phương thức tạo từ để cấu tạo nên từ của tiếng Việt” [19, 40]. Để xác định một âm tiết có phải từ tố hay không, không phải chỉ là phân tách câu hay từ để tìm ra từ tố, mà quan trọng hơn là đưa cái mà người nghiên cứu cho là từ tố vào các phương thức tạo từ xem nó có khả năng tạo ra từ hay không. Theo Đỗ Hữu Châu, cách thức xác định từ tố gồm 2 bước: - Bước 1: “Căn cứ vào định nghĩa từ tố (hình vị) nói chung, phân tách các yếu tố trong dòng ngữ lưu để tìm xem những trường hợp nào phù hợp với định nghĩa” [19, 38].
- Bước 2: “Thử đưa các yếu tố tìm ra được đó vào phương thức tạo từ. Nếu nó có thể tạo ra từ thì nó là từ tố” [19, 38]. Sau khi thực hiện cả hai bước trên, có thể xác định rõ ràng về một âm tiết nào đó là một từ tố tiếng Việt điển hình. Đỗ Hữu Châu cũng theo Phan Ngọc, cho rằng trong tiếng Việt có bốn loại âm tiết được kí hiệu là A, B, C, D: 10 A: là những âm tiết tự do, những âm tiết này là từ độc lập, như: tốt, xấu, cá, tôm… Loại âm tiết này nhất thiết phải có nghĩa rõ ràng.
B: là những âm tiết không tự do và không đơn nhất. Đây là những âm tiết tự mình không phải là từ độc lập nhưng có thể dùng để tạo một loạt từ, như: thiên trong thiên mệnh, thiên định… Loại âm tiết này đều là Hán Việt, cũng nhất thiết phải có nghĩa. C: là các âm tiết không tự do, đơn nhất và không láy âm. Có hai nhóm âm tiết C.
Thứ nhất, những âm tiết C đứng trước một từ đa âm tiết như âm tiết a trong a xít, a men, a di đà… là âm tiết phiên âm và các từ chứa nó đều là từ phiên âm. Loại âm tiết này dĩ nhiên không có nghĩa. Thứ hai là nhóm những âm tiết C đứng sau một âm tiết A tạo thành một từ đa âm, đó là các C gốc Việt và AC là từ thuần Việt. Ví dụ như qué trong gà qué, rả trong cỏ rả… Loại âm tiết này có nghĩa từ rất lâu và đã mất nghĩa.
D: là những âm tiết không tự do, đơn nhất, láy âm. Ví dụ: tơi bời, lác đác, … Như vậy, những từ tố trung tâm của tiếng Việt là những từ tố có một âm tiết có nghĩa. Các từ tố đơn âm tiếng Việt được phân thành 4 loại theo kí hiệu của Phan Ngọc: - Từ tố thứ sinh: từ tố láy (D) - Từ tố cơ sở: + Từ tố độc lập (A) + Từ không độc lập (B) + Từ tố không độc lập (C) Theo cách phân loại này, chỉ có những từ tố A mới là từ tiếng Việt. Các từ tố B, C, D do chỗ không độc lập nên không có khả năng tạo câu, không có đặc điểm ngữ pháp của từ.
Tóm lại, từ tố tiếng Việt chính là hình vị trong thuật ngữ quốc tế, đại bộ phận là những âm tiết có nghĩa và đi vào phương thức tạo từ để tạo nên từ hoàn chỉnh. Các phương thức tạo từ trong tiếng Việt Theo Đỗ Hữu Châu, “phương thức cấu tạo từ là cách thức tổ chức các đơn vị cấu tạo từ để cho các từ của một ngôn ngữ nào đấy” [19, 33]. Đối với tiếng Việt đó sẽ là sự tổ chức các từ tố để cho ra từ mới. Có ba phương thức tạo từ cơ bản sau đây trong tiếng Việt: 1.
Phương thức từ hóa hình vị Đây là phương thức cấu tạo từ tác động vào một âm tiết có nghĩa để tạo thành từ đơn, Ví dụ: ăn, đi, mây, người, chua, ngon. Phương thức ghép Phương thức ghép là phương thức “dùng hai hoặc hơn hai đơn vị cấu tạo từ riêng rẽ ghép lại với nhau theo những quy tắc nhất định để cho một từ, được gọi là từ ghép” [19, 34]. Có nhiều định nghĩa về từ ghép, ở đây chúng tôi theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu: “Từ ghép được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) riêng rẽ, tách biệt, độc lập với nhau” [19, 24]. Nói đơn giản hơn, từ ghép là từ được tạo ra từ phương thức ghép.
Phương thức này “dùng hai hoặc hơn hai đơn vị cấu tạo từ riêng rẽ ghép lại với nhau theo những quy tắc nhất định để cho một từ, được gọi là từ ghép” [16, 54]. Và cũng theo Đỗ Hữu Châu: “Ở tiếng Việt, các hình vị riêng rẽ, tách biệt, không đối lập với nhau theo kiểu của các ngôn ngữ Ấn – Âu thành căn tố, phụ tố mà chỉ phân biệt với nhau thành hình vị thực và hình vị hư. Cho nên, trong tiếng Việt chỉ có các từ ghép chân chính. Nếu căn cứ vào tính chất hình vị thì các từ ghép của tiếng Việt được phân loại thành từ ghép thực và từ ghép hư.
Từ ghép hư là từ ghép do hai hình vị hư kết hợp với nhau theo phương thức ghép mà có. Đó là các từ như bởi vì, cho nên, để mà, huống hồ…” [16, 55]. Ở các từ ghép hư, không thể xác lập rõ ràng quan hệ ngữ pháp giữa các hình vị trong từ như với từ ghép thực nên rất khó tìm hiểu mặt kết học giữa chúng. Mặc dù có những từ ghép ba, ghép bốn, hoặc hơn nữa, nhưng tiêu biểu trong tiếng Việt vẫn là ghép hai từ tố cơ sở.
12 Có hai phương thức ghép cơ bản là: - Ghép chính phụ: là phương thức ghép mà “giữa hai từ tố có quan hệ chính phụ. Nếu kí hiệu từ tố chính là X, từ tố phụ là Y thì từ tố phụ có tác dụng phân hóa nghĩa của từ tố X” [19, 48]. - Ghép đẳng lập là phương thức ghép mà “trong đó hai từ tố bình đẳng với nhau, không có từ tố nào là chính, từ tố nào là phụ, cả hai từ tố góp nghĩa với nhau để cho nghĩa mới của toàn từ ghép” [19, 54]. Phương thức láy Phương thức láy là phương thức “tác động vào một đơn vị cấu tạo từ làm sản sinh một đơn vị thứ sinh, giữa hai đơn vị này có quan hệ ngữ âm nhất định.
Tổ hợp đơn vị gốc và đơn vị thứ phát là một từ láy” [19, 34]. Trong phương thức láy gồm có: - Láy hoàn toàn (nếu toàn bộ âm tiết của từ láy cơ sở được láy lại). Khi thanh điệu của từ tố cơ sở là thanh trắc chuyển thành thanh bằng cùng nhóm thì có sự biến thanh. Ví dụ: đo đỏ, nằng nặng.
Nếu phụ âm cuối của từ tố cơ sở là /p/, /t/, /k/ thì sẽ chuyển thành /m/, /n/, /ng/, đó là hiện tượng biến vần. - Láy bộ phận (nếu một bộ phận ngữ âm của âm tiết từ tố cơ sở được láy lại), gồm: + Láy âm (điệp âm): là phương thức láy mà phụ âm đầu của từ tố láy lặp lại phụ âm đầu của từ tố cơ sở, còn khuôn vần khác với khuôn vần của từ tố cơ sở. Vi dụ: dễ dàng, dính dáng, tập tành, trình trịch, thậm thụt… + Láy vần (điệp vận): là phương thức láy mà vần của từ tố láy lặp đi lặp lại vần của từ tố cơ sở, còn phụ âm đầu thì khác.