CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chi Commelina L. Vị trí phân loại Theo hệ thống phân loại thực vật có hoa Cronquist (hệ thống phân loại thực vật có hoa do Arthur Cronquist phát triển)[15], chi Commelina có vị trí phân loại như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Phân giới: Thực vật có mạch (Tracheobionta) Trên ngành: Thực vật có hạt (Spermatophyta) Ngành: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Lớp hành (Liliopsida) Phân lớp: Thài lài (Commelinidae) Bộ: Thài lài (Commelinales) Họ: Thài lài (Commelinaceae) Chi: Commelina L. Đặc điểm phân bố Commelina L.
là chi lớn nhất trong họ Commelinaceae, bao gồm khoảng 205 – 215 loài [16]. Đây cũng là một trong sáu chi có sự phân bố toàn cầu, là chi phân bố phức tạp nhất trong Họ Thài Lài [17] phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [4]. Một số loài phổ biến của chi này là C. benghalensis được tìm thấy ở vùng cận nhiệt châu Á và châu Phi, C.
erecta được thấy ở châu Mỹ, vùng Sahara ở châu Phi và phía Nam Arabian Peninsula. Trong số các loài của chi Commelina thì loài C. dielsii là loài duy nhất chỉ được tìm thấy ở đúng một nơi trên thế 3 giới. Loài này được phát hiện đầu tiên vào năm 1940 và mới chỉ được tìm thấy ở Concepción del Uruguay, tỉnh Entre Ríos, vùng đông bắc Argentina [18,19].
Tại Việt Nam, tám loài của chi Commelina L. Sự phân bố của các loài này được trình bày chi tiết trong Bảng 1. Phân bố các loài thuộc chi Commelina ở Việt Nam [3,20] Tên loài Tên gọi khác Phân bố Thài lài, Commelina Rau trai, Khắp các vùng trên cả nước communis L. Trai thường, Cỏ chân vịt.
Commelina Thài lài lá dài, Thài lài lá Hà Nội (Ba Vì), Đồng Nai, longifolia liễu, Trai lá dài, Kiên Giang, Tp. Hồ Chí Minh Lam. Đạm trúc diệp. Lào Cai, Lạng Sơn, Bắc Giang, Commelina Thài lài lông, Đầu riều, Hà Nội, Hải Dương, Ninh benghalensis Trai Ấn, Bình, Thừa Thiên – Huế, Đà L.
Chích thảo. Nẵng, Quảng Nam, Tp. Hồ Chí Minh Commelina Thài lài nước, Trai nước, Hà Nội, Lâm Đồng, các tỉnh paludosa Trúc diệp thái Nam bộ Blume 1. Đặc điểm thực vật Các loài thuộc chi Commelina là cây thân thảo, cao từ 30 – 60 cm hoặc cao hơn, sống hàng năm hoặc lâu năm.
Rễ thường ở dạng sợi, hiếm khi có củ hoặc thân rễ. Thân cây leo hoặc mọc thẳng, thân cây nhẵn, gần như không có lông, có rễ ở các mấu. Lá cây thường mọc thành hai hàng hoặc theo hình xoắn ốc, không có cuống hoặc có một cuống lá. Lá thon, chóp nhọn, bẹ có rìa lông ôm lấy thân, dài 2 – 6 cm, rộng 1 – 2 cm [4,22].
4 Cụm hoa là một lá bắc rộng như mo, mỗi mo chứa 3 – 5 hoa nhỏ. Hoa mọc trên cuống hoa và đối xứng hai bên (zygomorphic). Cụm hoa mọc ở ngọn thân và nách lá, trên cùng một mấu với lá. Cụm hoa kiểu chùm xim, chứa một hoặc hai xim hoa, các trục hoa đơn lẻ sắp xếp so le tạo thành cụm giống như đuôi bọ cạp, mọc dọc theo trục chính của chùy hoa.
Hoa lưỡng tính hoặc hoa đực, mọc trên cuống hoa và đối xứng hai bên. Lá bắc nằm dưới cuống lá, thường rất nhỏ hoặc không có. Ba lá đài không đồng đều, có thể mọc tự do hoặc hai lá đài có thể hợp nhất với nhau. Cánh hoa mọc tự do không đồng đều, thường có màu xanh lam (đôi khi là màu tím nhạt, màu vàng, hay màu trắng).
Hoa có ba nhị hữu thụ và ba nhị bất thụ. Chúng mọc tự do và có chỉ nhị nhẵn nhụi. Nhị bất thụ thường mọc phía sau với bao phấn, có bốn hoặc sáu thùy. Nhị hữu thụ mọc phía trước và dài hơn so với nhị bất thụ.
Nhị hoa ở giữa khác biệt về kích cỡ và hình dạng so với các nhị hoa còn lại. Bầu nhụy chứa hai hoặc ba ô với một hoặc hai noãn tại mỗi ô [4,23]. Quả nang thuôn dài, có hai hoặc ba mảnh vỏ và có hai hoặc ba ô, hiếm khi có một ô. Mỗi ô chứa một hoặc hai hạt, cũng có thể không chứa hạt nào.
Hạt có dạng hình trụ, hình mắt lưới hoặc hình răng cưa, xếp thành một hàng, rốn hạt thẳng. Mùa ra hoa và quả từ tháng 5 đến tháng 11 hằng năm [4]. Thành phần hóa học Chi Commelina L. là một chi lớn nhất trong họ Commelinaceae.
Tuy nhiên, cho đến nay trên thế giới chỉ có một số loài của chi đã được nghiên cứu như C. appendiculata, … Thành phần hóa học của một số loài thuộc chi Commelina đã công bố trong các nghiên cứu trước đây được trình bày chi tiết trong Bảng 1. Thành phần hóa học của một số loài thuộc chi Commelina Tài liệu Tên loài Tên chất / nhóm chất tham khảo 5 Polyphenol; flavonoid; tanin; alcaloid; phytosterol (stigmasterol); triterpen C. nudiflora Phenolic; flavonoid [24] 1-deoxynojirimycin; (2R,3R,4R,5R)2,5- bis (hydroxymethyl)-3,4- dihydroxypyrrolidine; acid phenolic; flavonoids; coumarin; flavonoid C.
communis glycosides (isoquercitrin, isorhamnetin-3-O- [25] rutinoside, isorhamnetin-3-O-b-D-glucoside, glucoluteolin, chrysoriol7-O-b-D-glucoside, orientin, vitexin, isoorientin, isovitexin, swertisin, flavocommelin) alcaloid, flavonoid, glycosid, phlobatannin, C. diffusa [13] saponin, sterol, tanin. Carbohydrat; flavonoid; tanin; glycosid; C. Luteolin; isoquercitrin; quercitrin; acid lacton C.
erecta [27] saccharinic; acid shikimic. Tác dụng dược lý Theo y học cổ truyền, nhiều loài thuộc chi Commelina L. được sử dụng làm thuốc chữa các bệnh như viêm họng, cảm cúm, cảm lạnh,…[28]. benghalensis được sử dụng để giảm đau, táo bón, nhức đầu và bệnh phong.
Ở nhiều vùng nhiệt đới châu Á, nó được sử dụng để điều trị vô sinh ở phụ nữ. Ở 6 Ấn Độ, nó được sử dụng để giảm béo, nhuận tràng, mềm da, chống viêm và chống trầm cảm [7]. coelestis được sử dụng để chữa tiêu chảy ở Mexico [29]. Tại Việt Nam, nhiều loài thuộc chi Commelina L.
cũng được sử dụng làm thuốc chữa nhiều loại bệnh. benghalensis được sử dụng làm thuốc xổ, bảo vệ màng nhầy, hoạt nhuận và làm mát. communis dùng làm thuốc lợi tiểu, trị phù thũng do suy tim, trị huyết áp cao, sốt, đau mắt, lậu,…[1]. Các nghiên cứu dược lý hiện đại cũng đã chứng minh được tác dụng của một số loài thuộc chi Commelina L.
Các chất chiết xuất từ dịch chiết ethanol của rễ loài C. benghalensis cho thấy tác dụng giảm đau rất tốt với cơ chế hoạt động tương tự cơ chế của các NSAID. Ngoài ra, loài này còn cho thấy khả năng giảm đau, kháng viêm, chống ung thư, chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng ký sinh trùng, kháng virus, an thần, bảo vệ gan,…[19]. Một nghiên cứu khác trên loài C.
nudiflora cho thấy hoạt tính kháng khuẩn và chống oxy hóa in vitro tiềm năng. Chiết xuất nước của C. nudiflora thể hiện hoạt tính ức chế cao nhất đối với Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli và Salmonella typhi [24]. appendiculata có tác dụng giảm đau và gây độc tế bào tiềm năng [26].
Dịch chiết loài C. communis là nguyên liệu quan trọng để dự phòng trong điều trị đái tháo đường tuýp 2. coelestis cho thấy hoạt tính chống tiêu chảy [29] và C. appendiculata có tiềm năng giảm đau tốt [25,30].
Tổng quan về cây Thài lài trắng (Commelina diffusa Burm. Danh pháp Tên khoa học: Commelina diffusa Burm. Tên tiếng Việt thường gọi: Thài lài trắng, rau trai, áp cước thảo, cỏ lài trắng, rau trai trắng, cỏ chân vịt, đạm trúc diệp, rau trai ăn, chích thảo, trúc diệp thái, nhi hoán thảo [3,20]. Đặc điểm phân bố Thài lài trắng được mô tả lần đầu tiên vào năm 1768 bởi Burman.
và được tìm thấy ở khắp các vùng nhiệt đới của châu Mỹ, châu Phi, châu Á và Thái Bình Dương, cũng như ở các vùng cận nhiệt đới phía nam của Hoa Kỳ, Nam Mỹ, Úc và các đảo Nam Á [32]. Cây có nguồn gốc ở Trung Quốc, sau lan sang phía đông đến Nhật Bản, phía tây đến Ấn Độ và xuống phía nam có Việt Nam, Lào, Malaysia và Philippin. Ngoài ra, cây còn xuất hiện ở Nam Âu, Nga, Bắc Mỹ,. diffusa) là một loài cỏ dại ưa ẩm ở vùng nhiệt đới và cả cận nhiệt đới, xuất hiện chủ yếu ở các môi trường sống thoáng và ẩm thấp như các cánh đồng lúa, bờ rãnh, ven đê.
Cây thường mọc ở các vùng đất canh tác, ven đồng ruộng, đồng cỏ ẩm ướt, ven đường, ven sân vận động, sông suối, bụi rậm và các khu vườn.diffusa có thể chống chịu được những đợt lũ lụt tạm thời [3,4,15,20]. Tại Việt Nam, C. diffusa thường mọc ở nơi ẩm ướt như ven đồi, ven đường, vùng đất ẩm. Loài này mọc tại một số tỉnh thành và khu vực trên cả nước như miền Nam Việt Nam [3,20], Vườn Quốc gia Tam Đảo [33], Cù Lao Chàm [34],.
Đặc điểm thực vật C. diffusa là loại thảo mộc hàng năm ở các vùng ôn đới nhưng lại là loài lâu năm khi mọc ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới. Cây bò lan rộng trên mặt đất. Thân cây leo, phân nhiều nhánh, dài tới hơn một mét, chia đốt dài từ 2 – 10 cm.
Thân cây hình trụ, nhẵn mịn hoặc sần sùi, bén rễ ở những mấu. Lá thon có phiến, dài 2 – 6 cm, rộng 1 – 2 cm, màu xanh lục. Lá đơn, mọc so le, không có cuống, đầu thuôn nhọn. Các phiến lá có hình dạng đa dạng, có thể là hình mác đến hình trứng, phần lá gần cuống thì thường thuôn hơn.
Bề mặt lá có thể nhẵn hoặc có lông, gân hình cung. Bẹ lá có sọc màu đỏ, được bao phủ bởi các sợi lông tơ, dài 0,8 – 1,7 cm [3,4,20]. Hình ảnh toàn cây, thân và hoa của Thài lài trắng [35] Thài lài trắng ra hoa từ tháng 5 đến tháng 11, nở vào buổi sáng và nhanh chóng tàn sau vài giờ đồng hồ. Hoa đực hoặc lưỡng tính.
Hoa thường mọc thành xim, mỗi hoa mọc trên một trục hoa đơn lẻ. Các trục hoa đơn lẻ sắp xếp so le tạo thành cụm giống như đuôi bọ cạp mọc dọc theo trục chính của chùy hoa. Xim hoa được bao trong một “bao mo” – một chiếc lá đã bị biến đổi và chứa đầy dịch nhầy. Bao mo mịn hoặc có thể có vân, tức là có rãnh nhỏ trên đó.
Chúng thường dài 0,8 – 2,5 cm, nhưng có thể ngắn đến 0,5 – 4 cm. Thông thường sẽ có hai xim hoa. Xim hoa thấp hơn có khoảng từ hai đến bốn bông hoa. Trong khi đó, xim hoa ở bên trên có từ một bông hoa trở lên.
Xim hoa phía trên chỉ có một bông hoa đực và có cuống hoa dài hơn xim hoa phía dưới có hoa lưỡng tính. Cuống hoa hình trụ dài, mỗi cuống chỉ mọc một bông hoa. Cuống của chúng thường dài 0,5 – 2 cm và hiếm khi dài đến 2,9 cm. Các lá đài ở dạng màng mỏng, khó nhìn thấy.
Cánh hoa màu xanh hoặc màu tím nhạt, có kích thước từ 4,2 – 6 mm.