CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Tổng quan về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 1. Khái niệm và bản chất của Kế toán quản trị chi phí Kế toán quản trị Kế toán đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý các hoạt động kinh tế, tài chính của các doanh nghiệp. Chức năng của kế toán là cung cấp các thông tin cần thiết về tình hình và sự vận động của tài sản trong quá trình SXKD của doanh nghiệp cho các đối tượng sử dụng với các mục đích sử dụng khác nhau.
Sự khác nhau đó chia hệ thống thông tin kế toán thành hai bộ phận. Sự khác nhau đó là tiền đề hình thành KTQT, một bộ phận của hệ thống kế toán trong DN. Cho đến nay đã có một số quan điểm khác nhau về KTQT, như: Theo Luật kế toán Việt Nam (2015), KTQT được định nghĩa là “việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Theo giáo trình Kế toán quản trị của Trường Đại học Thương Mại (2006) “KTQT là khoa học thu nhận, xử lý cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh một cách cụ thể phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý hoạt động kinh tế tài chính trong nội bộ doanh nghiệp”.
Như vậy, có thể hiểu KTQT là một bộ phận của kế toán nhằm thu thập, xử lý và cung cấp thông tin dưới dạng các báo cáo KTQT phục vụ cho nhà quản trị DN ra quyết định liên quan đến các chức năng quản trị DN. Bản chất của kế toán quản trị: được thể hiện trên các nội dung sau Thứ nhất, KTQT một mặt thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về các nghiệp vụ kinh tế đã thực sự hoàn thành và được ghi chép trong các sổ kế toán, mặt khác nhằm mục đích và cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định của nhà 8 quản trị DN. Do đó, ngoài các phương pháp chung của kế toán thì KTQT còn phải sử dụng các phương pháp riêng để đáp ứng được yêu cầu của nhà quản lý. Thứ hai, KTQT tập trung vào các hoạt động trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ DN.
Những thông tin này chỉ có ý nghĩa đối với đối tượng trong DN mà không có ý nghĩa đối với các đối tượng bên ngoài. Vì vậy có thể khẳng định KTQT là loại kế toán dành cho người làm công tác quản trị. KTTC không đáp ứng được mục đích này. Thứ ba, KTQT là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống KTDN.
Đồng thời, nó cũng là một công cụ quan trọng trong quản lý nội bộ DN. Nội dung chủ yếu, phổ biến của KTQT trong DN gồm: - Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm - Kế toán quản trị bán hàng và kết quả kinh doanh - Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận. - Lựa chọn thông tin thích hợp cho việc ra quyết định. - Lập dự toán ngân sách sản xuất kinh doanh.
- Kế toán quản trị một số chỉ tiêu khác: TSCĐ; hàng tồn kho; lao động và tiền lương; các khoản nợ. Ngoài ra, DN có thể thực hiện các nội dung khác của KTQT theo yêu cầu quản lý của đơn vị. Trong các nội dung trên thì chi phí luôn được coi là trọng tâm của KTQT. Kế toán quản trị chi phí Những phân tích trên cho thấy một bộ phận của KTQT là KTQT chi phí.
Theo Đào Thị Minh Tâm (2009) thì: “Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị chuyên thực hiện việc xử lý và cung cấp thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định”. Theo Viện kế toán quản trị của Mỹ, kế toán chi phí là: “Kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự án, một quá trình hoặc một sản phẩm… Chi phí này được xác định bằng việc đo lường trực tiếp, kết chuyển tùy ý, hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý” (Đặng Thị Hòa, 2006). Theo định nghĩa này, kế 9 toán chi phí không phải là một bộ phận độc lập, mà kế toán chi phí vừa là bộ phận của KTTC và vừa là một bộ phận của KTQT. Bộ phận kế toán CP có trong KTQT được gọi là KTQTCP.
Với tư cách là một bộ phận của hệ thống KTQT, KTQTCP được thực hiện nhằm thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí của DN. Mục đích là giúp các nhà quản trị tại DN có thể quản trị được các yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động thông qua xây dựng KH, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra quyết định. Về bản chất, KTQTCP là một bộ phận của KTQT nên cũng có đầy đủ bản chất của KTQT. Tuy nhiên, KTQTCP được sử dụng nhằm cung cấp thông tin về chi phí bao gồm CP liên quan trực tiếp đến SX và CP ngoài sản xuất của doanh nghiệp.
Chức năng và đối tượng của kế toán quản trị chi phí Chức năng của kế toán quản trị chi phí Kế toán quản trị chi phí với mục tiêu cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong nội bộ. Do vậy, chức năng của KTQTCP là phản ánh và cung cấp các thông tin phục vụ quản trị chi phí. Cụ thể các chức năng và thông tin cung cấp được thể hiện qua bảng sau : Chức năng Thông tin cung cấp Phản ánh và cung cấp các thông tin hoạch định hoạt Dự toán CP động SXKD Phản ảnh và cung cấp thông tin kết quả hoạt động SXKD CP thực tế Phản ảnh và cung cấp thông tin kiểm tra, đánh giá hoạt Sai sót và nguyên nhân động SXKD Phản ảnh và cung cấp thông tin phục vụ cho các quyết Báo cáo tóm tắt về CP định quản trị của những nhà quản lý trong nội bộ DN Đối tượng của KTQTCP Là một bộ phận kế toán trong doanh nghiệp, đối tượng của KTQT chi phí cũng là đối tượng của kế toán nói chung, của KTQT nói riêng. Đó là tài sản, là sự vận 10 động của tải sản liên quan đến chi phí của doanh nghiệp.
Đối tượng của KTQT chi phí là quá trình hình thành và hiệu quả sử dụng chi phí của DN, bao gồm CPSX và chi phí ngoài sản xuất 1. Nhu cầu thông tin của các nhà quản trị và vai trò của KTQT chi phí 1. Nhu cầu thông tin của các nhà quản trị Để xác định nhu cầu thông tin của các nhà quản trị, trước hết cần làm rõ các chức năng của quản trị trong DN. Với mỗi chức năng khác nhau thì nhà quản trị cần các thông tin không giống nhau.
Quản trị là quá trình trong đó các nhà quản trị tác động lên đối tượng quản trị để phối hợp hoạt động của các cá nhân và tập thể nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra của DN. Nhà quản trị thực hiện các chức: Lập kế hoạch, Tổ chức điều hành, Kiểm tra đánh giá và Ra quyết định. Để thực hiện các chức năng trên, nhà quản trị cần có các thông tin cần thiết và phù hợp về chi phí. Cụ thể: Đối với chức năng lập kế hoạch “Lập kế hoạch là xác định các mục tiêu phải đạt và vạch ra các bước phải thực hiện để đạt những mục tiêu đó.
Các kế hoạch được lập ra có thể là dài hạn hay ngắn hạn. Hoặc có thể hiểu là xác định mục tiêu và từ đó quyết định cách tốt nhất để đạt được mục tiêu đã đặt ra” (Đặng Thị Hòa, 2006) Để thực hiện chức năng này, nhà quản trị doanh nghiệp cần nhiều thông tin như: Thông tin quá khứ - thông tin về chi phí thực hiện thông tin liên quan đến tương lai – thông tin dự toán chi phí. Trong đó, thông tin chi phí liên quan đến tương lai là thông tin về các khoản chi phí phát sinh liên quan đến các phương án kinh doanh khác nhau và những vấn đề phát sinh hoặc những rủi ro có thể gặp trong mỗi phương án để lựa chọn phương án tốt nhất. Các thông tin để lựa chọn phương án SXKD tối ưu là những chi phí sẽ phát sinh liên quan đến mỗi phương án, chi phí cố định và chi phí biến đổi, chi phí chênh lệch, chi phí cơ hội, chi phí chìm… Khi DN quyết định lựa chọn phương án nào đó thì dự toán chi phí sẽ được lập ra.
Những thông tin cần thiết cho việc lập dự toán là định mức chi phí, chi phí cố định và chi phí biến đổi liên quan đến các mức hoạt động của DN. 11 Đối với chức năng tổ chức điều hành “Với chức năng tổ chức và điều hành, nhà quản trị phải quyết định cách thức liên kết tốt nhất giữa tổ chức, con người với các nguồn tài – vật lực lại với nhau nhằm thực hiện các kế hoạch đạt hiệu quả cao nhất. Trong quá trình thực hiện chức năng này, nhà quản lý phải giám sát hoạt động hàng ngày và giữ cho mọi hoạt động của tổ chức được tiến hành trôi chảy” (Đặng Thị Hòa, 2006). Trong giai đoạn tổ chức điều hành, doanh nghiệp cần nhiều thông tin như: Thông tin về dự toán chi phí: nhằm xem xét việc huy động và sử dụng các nguồn lực của DN; Thông tin về chi phí thực tế phát sinh: so sánh với dự toán nhằm đảm bảo các hoạt động của doanh nghiệp theo đúng mục tiêu đã định Thông tin về chi phí tiêu chuẩn: phân tích chênh lệch nhằm tìm ra các nguyên nhân tăng, giảm chi phí so với dự toán để từ đó DN có những điều chỉnh phù hợp.
Đối với chức năng kiểm tra đánh giá “Nhà quản trị sau khi đã lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện kế hoạch, đòi hỏi phải kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch.