Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1.1 Phân tích báo cáo tài chính của khách hàng doanh nghiệp phục vụ hoạt động cho vay tại các Tổ chức tín dụng 1.1 Bản chất của phân tích báo cáo tài chính khách hàng doanh nghiệp phục vụ hoạt động cho vay Phân tích hiểu theo cách chung nhất là sự phân chia, chia nhỏ các sự vật và hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa các bộ phận cấu thành của sự vật và hiện tượng đó. Trên cơ sở đó, nhận thức được bản chất, tính chất và hình thức phát triển của các sự vật và hiện tượng đang nghiên cứu trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa các sự vật và hiện tượng. Theo quan điểm của tác giả giáo trình "Phân tích báo cáo tài chính", NXB thống kê: “Phân tích BCTC là việc xem xét, kiểm tra về nội dung, thực trạng, kết cấu các chỉ tiêu trên BCTC; từ đó so sánh, đối chiếu tìm ra năng lực, nguồn tài chính tiềm tàng và xu hướng phát triển tài chính của DN nhằm xác lập các giải pháp khai thác sử dụng nguồn tài chính có hiệu quả”. Theo quan điểm của tác giả giáo trình "Phân tích báo cáo tài chính", NXB Tài chính: “Phân tích BCTC thực chất là phân tích các chỉ tiêu tài chính trên hệ thống báo cáo hoặc các chỉ tiêu tài chính mà nguồn thông tin từ hệ thống BCTC nhằm đánh giá tình hình tài chính DN, cung cấp thông tin cho mọi đối tượng có nhu cầu theo những mục tiêu khác nhau”.
Theo quan điểm của Josette Peyrard: “Phân tích BCTC có thể được định nghĩa như một tổng thể các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính quá khứ và hiện tại, giúp cho việc ra quyết định quản trị và đánh giá DN một cách chính xác”. 7 Các tác giả đều thống nhất cho rằng mục tiêu phân tích là cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý quan tâm đến tài chính DN. Những chủ thể quản lý đó là: các nhà quản trị DN, các nhà đầu tư, những người cho vay, cơ quan quản lý Nhà nước, nhà cung cấp, khách hàng, người lao động, nhà phân tích. Tác giả cho rằng, tất cả các chủ thể quản lý có lợi ích trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến DN đều quan tâm đến tình hình tài chính của DN.
Do vậy, tác giả đồng tình với các quan điểm trên. Từ những quan điểm trên, tác giả cho rằng tài liệu phục vụ hoạt động cho vay với khách hàng là DN thường bao gồm: Báo cáo tài chính (BCTC), tình hình vay nợ của DN, kế hoạch tài chính, thông tin tài chính từ cơ quan thuế, đơn vị có quan hệ trong hoạt động kinh doanh cũng như từ cơ sở dữ liệu của các ngân hàng khác và phương án xin vay vốn của DN. Trong đó, BCTC là tài liệu cơ bản nhất để đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và năng lực tài chính của DN. Phân tích báo cáo tài chính của khách hàng DN phục vụ hoạt động cho vay tại TCTD là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu thập và xử lý thông tin kế toán và các thông tin khác nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của khách hàng nhằm giúp TCTD đưa ra quyết định cấp tín dụng.
Nói cách khác, sau khi thu thập được BCTC của DN, cán bộ tín dụng (CBTD) cần tiến hành xử lý các thông tin để đánh giá về tình hình hoạt động và năng lực của DN.2 Mục đích phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp phục vụ hoạt động cho vay tại Tổ chức tín dụng Hoạt động quan trọng và có quy mô lớn nhất của TCTD là hoạt động tín dụng, luôn gắn liền với rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà TCTD phải chịu do khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay. Khi thực hiện hoạt động cho vay, TCTD luôn thực hiện quy trình phân tích các yếu tố của người vay để đảm bảo an toàn cao nhất và chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra. Tuy nhiên, khả năng 8 hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi và bị tác động do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan.
Hơn nữa, nhiều CBTD do thiếu kiến thức, kinh nghiệm hay do sai sót mà tiến hành việc phân tích tín dụng chưa thích đáng. Để hạn chế rủi ro tín dụng thì TCTD cần phải nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng trước khi cho khách hàng vay. Thẩm định tín dụng là quá trình tổ chức thu thập và xử lý thông tin thông qua việc sử dụng kỹ thuật để phân tích, đánh giá khách hàng một cách đầy đủ và tuân thủ quy định pháp luật làm cơ sở đưa ra quyết định cấp tín dụng. Mục đích của thẩm định tín dụng là nhằm đánh giá trung thực và khách quan khả năng hoàn trả vốn vay của khách hàng.
Từ đó TCTD có cơ sở ra quyết định cấp tín dụng như xác định số tiền, thời hạn cấp tín dụng, dự kiến tiến độ giải ngân, mức thu nợ hợp lý và các điều kiện cụ thể cho từng khoản vay. Đồng thời, thẩm định tín dụng còn là cơ sở để TCTD góp ý, tư vấn cho khách hàng, tạo tiền đề đảm bảo sử dụng hiệu quả tiền vay. Thẩm định tín dụng là một quy trình gồm nhiều bước và nội dung thẩm định khác nhau, trong đó thẩm định năng lực tài chính thông qua phân tích BCTC của DN xin vay vốn là một phần không thể thiếu khi xem xét bất kỳ một hồ sơ tín dụng nào. Đây là cơ sở đảm bảo sự an toàn của khoản tín dụng cấp cho khách hàng.
Việc cấp tín dụng cho DN có năng lực tài chính vững mạnh không chỉ giúp TCTD đạt được lợi nhuận cao và ổn định mà còn giúp đảm bảo tính an toàn và khả năng thu hồi khoản vay. Ngược lại, nếu cấp tín dụng cho một DN hoạt động kinh doanh không hiệu quả có thể khiến TCTD không thể thu hồi khoản vay đã cấp. Mục tiêu của việc phân tích các BCTC là để nắm được tình hình hoạt động của DN, khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài chính của DN, tình hình tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng vốn của DN hay mức doanh thu DN đạt được so với số vốn đầu tư vào các tài sản lưu động và tài sản cố định. Phân tích BCTC là cơ sở để TCTD ra quyết định cấp tín dụng, đồng thời có thể tư vấn kịp thời cho DN những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động, đề xuất biện pháp tài chính nhằm tháo gỡ khó khăn, để DN hoạt động ổn định và phát triển.
Bên cạnh đó, dựa trên những phân tích về BCTC của khách hàng, TCTD sẽ 9 xây dựng được kế hoạch cho vay đối với các DN vay vốn, từ đó xác định được tổng nhu cầu vốn trong ngắn, trung và dài hạn của TCTD để có chiến lược huy động vốn phù hợp, tránh lãng phí và đạt hiệu quả cao nhất.2 Dữ liệu và phương pháp phân tích báo cáo tài chính 1.1 Dữ liệu phân tích báo cáo tài chính Để có được đầy đủ thông tin phục vụ cho phân tích BCTC thì cần phải thu thập từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, bao gồm thông tin từ hệ thống BCTC và các nguồn thông tin khác có tác động đến hoạt động kinh doanh của DN. (i) Báo cáo tài chính - tài liệu phân tích báo cáo tài chính BCTC là một bức tranh tổng hợp phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh và các quan hệ tài chính của DN tại một thời điểm hay một thời kỳ. BCTC được trình bày theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán quy định. Để đảm bảo yêu cầu chính xác và hợp lý, BCTC phải được lập và trình bày theo quy định của Bộ Tài chính.
Theo Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành - Thông tư số 200/2014/TT- BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính, hệ thống BCTC áp dụng cho tất cả các DN thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước ở Việt Nam bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo sau: Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01 - DN); Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02 - DN); Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03 - DN); Bản thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09 - DN). - Bảng cân đối kế toán là BCTC tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của DN tại một thời điểm nhất định. Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của DN theo cơ cấu của tài sản và cơ cấu nguồn vốn hình thành của tài sản đó. Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của DN.
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh tình hình và kết quả HĐKD của DN, bao gồm kết quả từ HĐKD chính và kết quả từ hoạt động tài chính và kết quả hoạt động khác của DN. - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng phát 10 sinh trong kỳ báo cáo của DN. Thông tin về lưu chuyển tiền tệ của DN giúp các đối tượng sử dụng BCTC có cơ sở để đánh giá khả năng tạo tiền và sử dụng các khoản tiền đó trong quá trình hoạt động củaDN. - Bản thuyết minh BCTC là một bộ phận hợp thành không thể tách rời của BCTC DN dùng để mô tả mang tính tường thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả HĐKD, báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụ thể.
Để thuận lợi cho việc nghiên cứu và sử dụng BCTC, cần thiết phải tiến hành phân loại BCTC. BCTC có thể được phân loại theo nội dung kinh tế, theo thời gian lập, theo tính chất bắt buộc và theo phạm vi thông tin. - Phân loại BCTC theo nội dung kinh tế: + Báo các tài chính phản ánh tình hình tài sản và nguồn vốn của DN: Để phản ánh tổng quát tình hình tài sản và nguồn vốn của DN, kế toán sử dụng “Bảng cân đối kế toán”.