Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết. Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu. Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu.
Chương 5 tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, những đóng góp cũng như các hạn chế của nghiên cứu và định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Lý thuyết về danh mục đầu tư 2. Khái niệm danh mục đầu tư Danh mục đầu tư là sự kết hợp nắm giữ các loại chứng khoán, hàng hóa, bất động sản, các công cụ tương đương tiền mặt hay các tài sản khác bởi một cá nhân hay một nhà đầu tư thuộc tổ chức.
Mục đích của danh mục đầu tư là làm giảm rủi ro bằng cách đa dạng hoá đầu tư. Sự phát triển của thị trường tài chính đã tạo ra nhiều loại tài sản tài chính và công cụ đầu tư phong phú đa dạng. Đồng thời, các lý thuyết đầu tư hiện đại và nhiều bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy hiệu ứng rõ ràng của việc giảm thiểu rủi ro thông qua quá trình đa dạng hoá danh mục đầu tư. Do vậy, các nhà tổ chức và cá nhân thường không chỉ đầu tư vào một loại tài sản đầu tư đơn lẻ mà kết hợp sở hữu nhiều loại tài sản đầu tư khác trong trong một danh mục.
Đây chính là quan điểm đầu tư theo danh mục. Lựa chọn chiến lược quản lý danh mục đầu tư Lựa chọn chiến lược đầu tư là một khâu quan trọng, nó là cầu nối truyền dẫn mục tiêu đầu tư và chính sách phân bổ tài sản đến công đoạn thực hiện cụ thể là lựa chọn chứng khoán. Nó là kim chỉ nam hướng dẫn quan trọng khi tiến hành xây dựng danh mục đầu tư và toàn bộ quá trình điều chỉnh danh mục đầu tư sau đó. Hai chiến lược được nhắc tới phổ biến nhất là chiến lược quản lý danh mục đầu tư chủ động và chiến lược quản lý danh mục đầu tư thụ động hay sự phối hợp giữa hai chiến lược này.
Chiến lược quản lý danh mục đầu tư thụ động được hiểu một cách đơn giản nhất là chiến lược mua và nắm giữ, nhà đầu tư sẽ mua và nắm giữ chứng khoán trong một thời gian dài, trong suốt thời gian đó họ hầu như không điều chỉnh hoặc chỉ điều chỉnh một cách tối thiểu danh mục đầu tư. Chiến lược thụ động được cổ vũ bởi lý thuyết thị trường hiệu quả, bởi vì trong thị trường là hiệu quả, giá cả thị trường của các cổ phiếu luôn hợp lý, nó phản ánh một cách nhanh chóng tất cả thông tin liên quan đến cổ phiếu đó, thị trường là một cơ chế định giá hiệu quả và do đó không tồn tại các chứng khoán bị định giá sai. 4 Chiến lược quản lý danh mục đầu tư chủ động là chiến lược ngược lại với chiến lược thụ động, chiến lược chủ động luôn chú trọng sử dụng các chỉ số kinh tế, tài chính, cùng các công cụ khác nhau để đưa ra các dự báo về thị trường và định giá chứng khoán từ đó mua bán chứng khoán một cách chủ động để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn so với việc chỉ mua và nắm giữ chứng khoán. Trên đây là cách hiểu cơ bản về hai chiến lược quản lý danh mục đầu tư chủ động và thụ động.
Tuy nhiên để hiểu một cách có hệ thống về các chiến lược quản lý đầu tư khác nhau cũng như hai chiến lược chủ động và thụ động, ta cần xem xét các nhân tố tác động đến thu nhập và rủi ro của cổ phiếu. Thu nhập hay rủi ro của một chứng khoán có thể chịu tác động của 3 nhóm nhân tố là tác động của toàn bộ thị trường, yếu tố nhóm cổ phiếu ( yếu tố ngành ) và yếu tố đặc thù của cổ phiếu. Nhà đầu tư có thể theo đuổi các chiến lược khác nhau đối với ba nhân tố này. Đối với hai chiến lược chủ động và thụ động, nhà đầu tư có thể theo đuổi chiến lược chủ động hoặc thụ động đối với từng yếu tố một hay kết hợp tất cả những yếu tố này.
Phương pháp lựa chọn cổ phiếu Đây là công đoạn trong đó nhà quản trị đầu tư phải sử dụng nhiều kỹ thuật, phương pháp và chiến lược khác nhau để lựa chọn các chứng khoán cụ thể vào danh mục đầu tư. Đây là một công việc mang tính chất liên tục, nhà đầu tư không chỉ thực hiện lựa chọn chứng khoán một lần duy nhất trong toàn bộ quá trình đầu tư mà còn phải thường xuyên điều chỉnh danh mục đầu tư khi thị trường có những biến động hay đưa ra quyết định mua bán kịp thời khi phát hiện có những chứng khoán bị định giá sai. Các phương pháp phân tích lựa chọn cổ phiếu gồm có 2 phương pháp là phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật. Phân tích cơ bản là phương pháp phân tích trong đó nhà phân tích sẽ sử dụng quy trình phân tích từ trên xuống hoặc quy trình phân tích từ dưới lên để phân tích và đánh giá các yếu tố nền kinh tế, ngành và điều kiện cụ thể của công ty để từ đó xác định giá trị nội tại của cổ phiếu.
Các nhà phân tích tin rằng trong ngắn hạn giá thị trường có thể biến động cao hơn hoặc thấp hơn giá trị nội tại, nhưng trong dài hạn thị trường sẽ điều chỉnh, giá thị trường của cổ phiếu sẽ có khuynh hướng tiệm cận với phản ánh gần đúng giá trị lý thuyết của nó. Nhà đầu tư sẽ so sánh giá trị nội tại với giá thị trường của cổ phiếu để đưa ra quyết định mua bán hay nắm giữ cổ phiếu. Phân tích kỹ thuật là cách ghi chép biểu đồ dưới dạng đồ thị các giao dịch cổ phiếu hoặc các nhóm cổ phiếu trong quá khứ và từ đó vẽ ra được bức tranh về xu thế trong 5 tương lai. Phân tích kỹ thuật tập trung xem xét giá và khối lượng giao dịch quá khứ để dự báo xu hướng giá trong tương lai.
Phân tích kỹ thuật sử dụng các công cụ như đồ thị, các chỉ số thống kê để nắm bắt các xu hướng giá của cổ phiếu để đưa ra quyết định giao dịch. Phương pháp phân tích kỹ thuật dựa trên giả định cơ bản là hầu hết các thông tin được phản ánh qua giá, không tồn tại các chứng khoán bị định giá sai. Trong phân tích đầu tư, nhà đầu tư có thể theo trường phái phân tích cơ bản, có thể theo trường phái phân tích kỹ thuật hoặc kết hợp cả hai phương pháp này. Phân tích cơ bản trả lời câu hỏi mua cổ phiếu nào và phân tích kỹ thuật trả lời câu hỏi mua vào lúc nào.
Lý thuyết thị trường hiệu quả Theo lý thuyết thị trường hiệu quả, giá cả của các tài sản tài chính kết hợp tất cả thông tin và giá cả được xem xét như là điều kiện dự đoán tốt nhất của giá trị đầu tư thật sự tại tất cả thời gian. Lý thuyết thị trường hiệu quả dựa vào nguyên tắc rằng mọi người hành xử có lý trí, tối đa hóa lợi ích mong đợi một cách chính xác và xử lý được tất cả thông tin. Nói một cách khác, tài sản tài chính thì luôn luôn được định giá hợp lý, và được phổ biến tới công chúng. Giá chứng khoán được mô tả xấp xỉ một cách ngẫu hứng theo thời gian: giá thay đổi thì không thể dự đoán bởi vì chúng xuất hiện chỉ trong sự phản ứng đối với thông tin thật sự mới, và không dự đoán được.
Bởi vì nếu tất cả thông tin được chứa đựng trong giá chứng khoán thì ta không thể kiếm được lợi nhuận trên trung bình và đánh bại thị trường theo thời gian mà không gánh lấy rủi ro. Dựa vào các hình thái thị trường hiệu quả mà các nhà đầu tư có chính sách đầu tư thích hợp. Nếu thị trường hiệu quả về thông tin trong quá khứ, hay nói cách khác, nếu tất cả các thông tin quá khứ đã được phản ánh vào trong giá, ta gọi đó là thị trường hiệu quả dạng yếu. Ở thị trường dạng yếu, việc sử dụng phân tích kỹ thuật sẽ không dẫn tới hiệu quả vượt trội vì thông tin được sử dụng để xây dựng chiến lược đầu tư đã được phản ánh trong giá chứng khoán thực tế.
Nếu mức giá thị trường phản ánh tất cả các thông tin hiện có, người ta gọi đó là hiệu quả dạng trung bình. Nếu thị trường ở dạng trung bình, phân tích cơ bản không mang lại kết quả hoạt động tốt hơn vì mọi thông tin công bố rộng rãi đã được phản ánh trong giá chứng khoán. 6 Thị trường mà tất cả các thông tin, bao gồm cả thông tin nội gián, được phản ánh trong giá được gọi là hiệu quả ở dạng mạnh. Tóm lại, những người bảo vệ giả thiết thị trường hiệu quả sẽ áp dụng chiến lược thu động (mua và nắm giữ).
Những người nghĩ rằng thị trường luôn tạo ra khoảng trống cơ hội sẽ tham gia chiến lược chủ động, gọi là chiến lược lựa chọn cổ phiếu và lựa chọn thời điểm thị trường. Chiến lược mua và giữ cổ phiếu Nếu cổ phiếu phản ứng mạnh hoặc phản ứng kém với thông tin của thị trường, thì những chiến lược đầu tư mà lựa chọn cổ phiếu dựa trên thông tin về lợi nhuận trong quá khứ sẽ có hiệu quả. Như vậy chúng ta sẽ hình thành các chiến lược đầu tư bằng cách lựa chọn cổ phiếu dựa trên suất sinh lợi của nhiều khoảng thời gian trong quá khứ và thời gian nắm giữ trong tương lai. Đối với mỗi tháng t, chúng ta sẽ lựa chọn ra các tập danh mục dựa trên suất sinh lợi của j tháng trong quá khứ, với thời gian nắm giữ là k.
Ta gọi chiến lược này là chiến lược j-k. Cách thành lập chiến lược j-k như sau: Ở đầu tháng t, các cổ phiếu được xếp hạng theo suất sinh lợi của j tháng trong quá khứ. Dựa trên sự xếp hạng này, ta lập ra 10 tập danh mục có số lượng cổ phiếu cân bằng ở mỗi tập danh mục. Tập danh mục chứa các cổ phiếu có suất sinh lợi cao nhất gọi là tập danh mục thành công (“winner”), tập danh mục chứa các cổ phiếu có suất sinh lợi thấp nhất gọi là tập danh mục thất bại (“loser”).
Trong mỗi tháng t, chiến lược j-k sẽ mua cổ phiếu ở tập danh mục thành công và bán cổ phiếu ở tập danh mục thất bại, và giữ tình trạng này trong k tháng.