Chương 1 giới thiệu về đề tài nghiên cứu (Introduction); Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan lý luận (Literature review); Chương 3 trình bày dữ liệu và phương pháp nghiên cứu (Data and Methodology); Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu và bình luận (Results, Discussions). Cuối cùng, Chương 5 trình bày kết luận, tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, những đóng góp cũng như các hạn chế của nghiên cứu và định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo sẽ thực hiện. 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN LÝ LUẬN Trong chương này, cơ sở lý thuyết và tổng quan lý luận sẽ được sử dụng để tiếp cận vấn đề cần nghiên cứu trong luận văn, lý thuyết thị trường hiệu quả, lý thuyết liên quan đến danh mục đầu tư, lý thuyết cần đưa vào để tạo mô hình nghiên cứu. Chương này còn đưa ra các nghiên cứu đi trước nhằm giúp hiểu rõ hơn các vấn đề cần nghiên cứu trong luận văn.
Lý thuyết liên quan đến danh mục đầu tư 2. Định nghĩa danh mục đầu tư Danh mục đầu tư (portfolio) là một tập hợp các loại chứng khoán mà nhà đầu tư đưa vào danh sách để đầu tư [1]. Nhờ đầu tư đa dạng hóa mà các nhà đầu tư đã giảm thiểu được rủi ro gặp phải, tối ưu mức lợi nhuận theo mong đợi, đó là mục đích chủ yếu của danh mục đầu tư. Thị trường tài chính phát triển dẫn đến việc sản sinh ra nhiều loại tài sản và các công cụ đầu tư khác nhau.
Cộng với nhiều minh chứng thực tế khi danh mục đầu tư được đa dạng hóa thì sẽ làm giảm đáng kể rủi ro. Chính vì vậy mà các cá nhân, tổ chức đã kết hợp đầu tư vào nhiều tài sản khác nhau trong danh mục, bởi vì họ đã nhận thức được lợi ích của danh mục đầu tư [5]. Các thành phần trong danh mục đầu tư : Theo cách phân loại của CFA Institue, các tài sản đầu tư của cá nhân và tổ chức gồm có : Cổ phiếu : Cổ phiếu nội địa (Domestic equities) Cổ phiếu các công ty lớn (Large - Capitalization), 6 Cổ phiếu các công ty nhỏ (Small – Capitalization). Cổ phiếu quốc tế (International equities) Cổ phiếu trên thị trường các nước phát triển (Major country market), Cổ phiếu trên thị trường các nước mới nổi (Emerging market).
Các công cụ đầu tư có lợi suất cố định (Fix – Income Investment) Cổ phiếu ưu đãi (Prefered Stock) Trái phiếu (Bonds) Trái phiếu chính phủ (Governments and Agencies Bond) Trái phiếu công ty (Corporates Bond), bao gồm trái phiếu có các mức xếp hạng tín nhiệm khác nhau. Các công cụ có nguồn gốc từ các tài sản được chứng khoán hóa (Asset Backed Securities): Phổ biến nhất là chứng khoán có nguồn gốc từ các khoản vay bất động sản (Mortgage – backed securities) và các nghĩa vụ nợ có đảm bảo (Collateralized Debt Obligations - CDO). Các công cụ thị trường tiền tệ (Money market instruments): Tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, hợp đồng Repo… Các công cụ tài chính phái sinh (Derivatives): Các công cụ tài chính phái sinh như hợp đồng kỳ hạn (Forward Contracts), hợp đồng tương lai (Futures Contracts), hợp đồng quyền chọn (Option Contracts), hợp đồng hoán đổi (Swap Contracts). Các hình thức đầu tư khác (Alternative Investments) Gồm có các hình thức đầu tư như: Bất động sản (Real estate), vốn cổ phần riêng lẻ (Private equity), vốn đầu tư mạo hiểm (Venture capital), quỹ phòng hộ (Hedge Funds), các loại hàng hoá (Commodities), ngoại tệ (Foreign Currency)… 7 Những hình thức đầu tư khác này thường có các đặc điểm chủ yếu như tính thanh khoản thấp, thời hạn đầu tư tương đối dài, khó xác định giá thị trường, thiếu các dữ liệu quá khứ về lợi nhuận và rủi ro, cần những yêu cầu phức tạp hơn trong quá trình phân tích… Tùy thuộc vào mục tiêu đầu tư cụ thể của từng nhà đầu tư, việc lựa chọn nắm giữ các loại tài sản đầu tư là khác nhau, với tỷ trọng khác nhau [6].
Quản lý danh mục đầu tư Quá trình quản lý danh mục đầu tư là một quá trình năng động liên tục và có hệ thống bao gồm bốn thành tố như sau [1]: - Đầu tiên là xác định mục tiêu: Được thực hiện bằng cách phân tích nhu cầu, mức độ ưu tiên và những hạn chế của chủ đầu tư. Chủ yếu là xác định rõ mức độ rủi ro có thể chấp nhận được của chủ đầu tư và mức độ lợi nhuận mong đợi hợp lý đối với mức rủi ro đó. - Tiếp theo là xây dựng các chiến lược phù hợp với mục tiêu: Xác lập những tiêu chuẩn, những hướng dẫn sẽ được sử dụng trong việc chọn lựa và phân bổ các chứng khoán trong danh mục bao gồm trường hợp bình thường, đồng thời làm rỏ những hoàn cảnh nào, như thế nào là hoàn cảnh không bình thường, và những cách thức nào mà việc phân bổ chọn lựa chứng khoán trong danh mục có thể thay đổi khác với trường hợp bình thường. - Kế đến là giám sát theo dõi (monitor) thị trường và những điều kiện của chủ đầu tư: Theo sát và nắm rõ những biến chuyển tương đối về giá trị của những loại chứng khoán khác nhau trên thị trường, cả về lợi nhuận mong đợi và rủi ro.
Tương tự như vậy, thường xuyên theo dõi nắm bắt và đánh giá lại một cách định kỳ về những nhu cầu, hoàn cảnh và những mục tiêu của chủ đầu tư. - Cuối cùng là điều chỉnh danh mục đầu tư một cách thích hợp, phản ảnh những thay đổi trên thị trường và những điều kiện của chủ đầu tư [1]. Sự khác nhau giữa quản lý danh mục đầu tư và quản lý quỹ đầu tư: Đối với quản lý danh mục đầu tư, các nhà đầu tư ủy thác có tài sản được quản lý riêng biệt so với các nhà đầu tư khác và công ty quản lý quỹ. Các nhà đầu tư sẽ có kết quả đầu tư khác nhau do họ được hạch toán khác nhau, mặc dù họ cùng chung trong tổ chức nhận ủy thác.
Còn đối với quản lý quỹ đầu tư, tài sản của các nhà đầu tư sẽ được góp vào một quỹ đầu tư chung, sẽ được giám sát thống nhất quản lý thông qua ngân hàng. Các nhà đầu tư sẽ nhận một phần lợi nhuận và chia sẻ rủi ro tương ứng với phần vốn góp vào quỹ đầu tư và họ có một phần sở hữu trong danh mục đầu tư. Quy trình quản lý danh mục đầu tư Các bước trong quy trình quản lý danh mục đầu tư được thể hiện như sau: 9 1 THIEÁT LAÄP MUÏC TIEÂU ÑAÀU TÖ 5 2 ÑO LÖÔØNG VAØ THIEÁT LAÄP ÑAÙNH GIAÙ CHÍNH SAÙCH ÑAÀU TÖ KEÁT QUAÛ PORTFOLIO MANAGEMENT PROCESS 4 3 THIEÁT LAÄP CHOÏN LÖÏA TAØI SAÛN CHIEÁN LÖÔÏC ÑAÀU TÖ Hình 2-1: Quy trình xây dựng và quản lý DMĐT [10] Bước 1 : Thiết lập mục tiêu đầu tư, Bước 2 : Thiết lập chính sách đầu tư, Bước 3 : Thiết lập chiến lược đầu tư, Bước 4 : Chọn lựa tài sản, Bước 5 : Đo lường và đánh giá kết quả. Đối với quản lý đầu tư cho các nhà đầu tư cá nhân hay cho tập thể (tổ chức), cùng với nhà quản lý đầu tư nghiệp dư hay chuyên nghiệp, để tạo nên một danh mục đầu tư thích hợp với từng đối tượng khách hàng, đều phải theo một quy 10 trình bao gồm năm bước như sau [10]: - Bước đầu tiên và là bước quan trọng trong quy trình quản lý danh mục đầu tư là tìm hiểu khách hàng để thiết lập mục tiêu đầu tư.
Nhà quản lý phải tiếp xúc và làm việc với nhà đầu tư để tìm hiểu khách hàng là ai, nhu cầu của họ là gì, mục tiêu và giới hạn đầu tư, thời gian đầu tư cũng như mức độ rủi ro mà họ có thể chấp nhận. - Bước hai: thiết lập chính sách đầu tư. Trong bước này, nhà quản lý phải xây dựng các chính sách đầu tư để phân bổ vốn ủy thác đầu tư vào các lớp tài sản khác nhau (cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản.) để đáp ứng các mục tiêu đầu tư đã được xác định. Chẳng hạn, với những khách hàng muốn duy trì một mức đa dạng hóa và an toàn nhất định: chính sách đầu tư thích hợp là giới hạn tỷ lệ vốn đầu tư trong những lớp tài sản nhất định hoặc bất cứ nhà phát hành nào.
- Bước ba: chọn lựa một chiến lược đầu tư. Có hai chiến lược xây dựng danh mục đầu tư là chiến lược xây dựng danh mục đầu tư thụ động và chiến lược xây dựng danh mục đầu tư chủ động. Nếu như trong chiến lược chủ động, nhà quản lý danh mục đầu tư sử dụng những thông tin sẵn có và các kỹ thuật dự báo để cố gắng tìm kiếm và nhận dạng các chứng khoán đã bị định giá sai nhằm thay đổi sự kết hợp của các lớp tài sản khác nhau cho phù hợp với điều kiện của thị trường, sau đó tiến hành cơ cấu lại một danh mục đầu tư tốt hơn thì trong chiến lược đầu tư thụ động, hiệu quả đầu tư chỉ dựa hoàn toàn vào đa dạng hóa các chứng khoán riêng lẻ đã được định giá trước đây. - Bước bốn: lựa chọn các chứng khoán để hình thành một tổ hợp đầu tư có hiệu quả.
Bằng một danh mục đầu tư tối ưu, với một mức rủi ro cho trước, lợi nhuận đem lại từ tổ hợp đầu tư này sẽ lớn nhất hoặc với một mức lợi tức kỳ vọng đã xác định, rủi ro đem lại từ tổ hợp đầu tư là nhỏ nhất. Kinh nghiệm thực tế cho thấy lựa chọn chứng khoán để phân bổ vào danh mục đầu tư là bước quan trọng nhất khi xây dựng danh mục đầu tư, vì người ta ước tính phân bổ tài sản chiếm khoảng 90% biến động về lợi nhuận của danh 11 mục đầu tư. Vấn đề quan trọng đặt ra là cần lựa chọn bao nhiêu chứng khoán để cơ cấu vào danh mục đầu tư nhằm phân tán rủi ro phi hệ thống. Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng một danh mục đầu tư được đa dạng tốt là một danh mục có trên 40 chứng khoán trong một số ngành khác nhau.
- Bước năm: đo lường và định giá kết quả, là bước khó khăn nhất trong quá trình quản lý danh mục đầu tư của các nhà quản lý danh mục đầu tư chuyên nghiệp. Trên cơ sở của kết quả đo lường và định giá hiệu quả đầu tư và trên cơ sở kiểm soát liên tục điều kiện thị trường, nhà quản lý danh mục đầu tư lại cập nhật và bổ sung lại chính sách và chiến lược đầu tư. Như vậy, quản trị đầu tư là một quá trình liên tục [10].