CHƯƠNG 1 MỞ DAU 1. LÝ DO HÌNH THÀNH DE TÀI Thị trường chứng khoán là kênh đầu tư mang đến cho người ta nhiều lợi nhuận nhất, nhưng cũng lay đi nhiều nhất đúng theo thuyết “Risk and Return”. Thị trường chứng khoán Việt Nam gần 2 năm qua đã làm cho không ít nhà đầu tư thua lễ, từ những tổ chức đầu tư chuyên nghiệp cho đến những nhà đầu tư nhỏ lẻ. Các phương pháp phân tích thông thường dường như không mang lại hiệu quả trong xu hướng thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay.
Đi từ thực tế gốc rễ ấy, nhu cau đặt ra của hau hết các nhà đầu tư là tìm kiếm một phương pháp đầu tư hiệu quả. Phân tích kỹ thuật chỉ đúng trong điều kiện thị trường có những xu hướng rõ ràng và sẽ càng đúng hơn đối với những thị trường đã phát triển lâu năm, các sản phẩm tài chính gan như đã day đủ. Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, phân tích kỹ thuật theo nhiều chuyên gia đánh giá, là chỉ đúng được 60%. Nhưng trong thị trường như hiện nay, con số đó là dưới 50%.
Những khi phân tích kỹ thuật đã không còn giúp nhà đầu tư kiếm tiên, họ có 3 lựa chọn: hoặc không dau tư dé không lỗ thêm, hoặc chuyển sang kênh đầu tư khác như vàng, USD.; hoặc thay đối phương pháp và tư duy dau tư. Khi muốn thay đổi phương pháp đầu tư, họ tìm đến phân tích cơ bản như một “vũ khí” phòng thủ sau cùng những vô cùng chắc chắn và hiệu quả. Phân tích cơ bản mang đến cho nhà đầu tư một cái nhìn sâu xa và gốc rễ một cô phiếu, một doanh nghiệp cụ thể, nó giúp nhà đầu tư biết được tình hình hoạt động, sức khỏe tài chính cũng như triển vọng trong tương lai của doanh nghiệp, mà điều này lại cực kỳ cần thiết trong tình hình thị trường hiện nay. Từ quan điểm đó, nhà đầu tư bắt đầu tìm kiếm những nhóm ngành tăng trưởng tốt, từ những ngành đó tìm kiếm những công ty tăng trưởng tốt.
Và hành động sau cùng trước khi quyết định đầu tư vào một công ty là 13 xác định gia tri của công ty nhằm tìm ra giá tri nội tai và dự đoán giá tri mục tiêu của cô phiếu công ty đó trong một khoảng thời gian nhất định. Dé tài “Phân tích và định giá công ty cỗ phan kinh doanh khí hóa lỏng miễn Nam” được đưa ra như một mong muốn mang đến cho nhà đầu tư một quy trình định giá chuẩn mực và khoa học một cỗ phiếu cụ thể, giúp cho nhà đầu tư biết họ cần chuẩn bị những gì và họ cần phải làm gi để có thé định giá được một cô phiếu của một công ty cụ thê. MỤC TIỂU CUA DE TÀI - Phan tích kinh tế vĩ mô toàn cầu và kinh tế Việt Nam (các chính sách tài khóa, tiền tệ.) giai đoạn hậu khủng hoảng và những khả năng tăng trưởng trong tương lai. - Phan tích thực trạng và triển vọng phát triển của ngành kinh doanh khí hóa lỏng nói chung và Công ty cỗ phan kinh doanh khí hóa lỏng miền Nam nói riêng.
- _ Xác định giá trị nội tại và khuyến nghị dau tư đối với cô phiếu PGS. Y NGHĨA THUC TIEN CUA DE TÀI - Cung cấp cho nhà dau tư cái nhìn toàn diện về tình hình kinh tế Việt Nam va thé giới cũng như trién vọng tăng trưởng. - _ Giới thiệu đến nhà đầu tư một ngành kinh doanh tiềm năng cũng như một cô phiếu tiềm năng. PHAM VI GIỚI HAN CUA DE TÀI Đề tài chủ yếu tập trung vào việc phân tích CTCP Kinh doanh khí hóa lỏng Miền Nam, các báo cáo tài chính quá khứ giai đoạn 2007 — 2010 kết hợp với phân tích ngành để đưa ra những dự báo trong tương lai.
14 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYÉT 2. MÔ HÌNH DINH TÍNH 2. Lý thuyết về phân tích co ban Khi tiến hành phân tích cơ bản, các nhân tố cần nghiên cứu bao gồm: phân tích thông tin cơ bản về công ty, phân tích báo cáo tài chính của công ty, phân tích hoạt động kinh doanh của công ty; phân tích ngành mà công ty đang hoạt động: và phân tích các điều kiện kinh tế vĩ mô ảnh hưởng chung đến giá cỗ phiếu. Sau khi phân tích, nhà nghiên cứu có nhiệm vụ phải chỉ ra được những dự đoán cho những chỉ tiêu quan trọng như thu nhập kỳ vọng, giá trị số sách trên mỗi cổ phiếu, giá trị hợp lý của cổ phiếu, các đánh giá quan trọng cũng như khuyến nghị mua/ bán cô phiếu trên thị trường.
Quy trình định giá doanh nghiệp theo phương pháp Top-Down Trên thực tế, người ta thường nói đến 2 trường phái tiếp cận của phân tích cơ bản là trường phái Top — Down và trường phái Bottom — Up. - Truong phái Bottom — Up cho răng có thé tìm ra các cô phiếu định giá thấp so với giá thị trường và những cô phiếu này sẽ cho ty suất sinh lời cao mà không kế viễn cảnh của thị trường và ngành. - Trường phái Top — Down lại cho rằng cả nền kinh tế, thị trường chứng khoán va ngành đều ảnh hưởng lớn lên tỷ suất sinh lời của một chứng khoán. Quy trình đầu tư 4 Top - - Phan tích vĩ mô kinh tế toàn cầu Bottom Down - Phan tích kinh tế trong nước - Up Ỷ - Phan tích ngành - Phan tích và định giá công ty Hình 2.1 Tién trình định giá Nguồn: Chí.
15 Bài phân tích sẽ sử dụng phương pháp tiếp cận theo trường phái Top — Down bởi : Top — Down cho phép nhà dau tư phân tích thị trường từ bức tranh tong thé (nền kinh tế) xuống từng công ty. Môi trường kinh tế và ngành có ảnh hưởng lớn đến sự thành công của một doanh nghiệp và tỷ suất sinh lợi của cỗ phiếu của công ty. Top — Down giúp xác định một chiến lược phân bố tài sản lý tưởng đối với một danh mục trong bất kỳ dạng môi trường thị trường nào. Bằng việc phân tích vĩ mô nên kinh tế toàn cầu và kinh tế trong nước, nhà đầu tư có thể xác định một tập danh mục đầu tư bao gồm các tài sản phù hợp với từng giai đoạn và từng nên kinh tế.
Top — Down thường giúp khám phá ra các tình huống không nên đầu tư nhiều hơn vào cô phiếu, giúp nhà đầu tư tránh dau ta quá mức vào cô phiếu trong thời kỳ thị trường đang xuống. Top — Down không chỉ bao gồm việc đa dạng hóa giữa các ngành hàng đầu mà còn các thị trường quốc tế hàng đầu. Điều này dẫn đến một danh mục được đa dạng hóa tốt trong các khu vực và các ngành khác nhau. CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH LƯỢNG 2.
Mô hình chiết khấu dòng cỗ tức Khi một nhà đầu tư mua cô phiếu, họ ky vọng nhận được 2 loại ngân lưu: cô tức được chi tra trong suôt thời đoạn năm giữ cô phiêu và ngân lưu từ việc bán cô phiêu. Ban thân giá kỳ vọng từ việc bán cô phiếu được xác định bởi các dòng cô tức trong tương lai, giá trị của cổ phiếu chính là hiện giá của dòng ngân lưu đến vô tận. Mô hình DDM dạng tổng quát như sau: co t4 em 4 ch nhÀ E(DPS;) Gia trị 1 co phan = t t=1 (17ke) Trong đó: E(DPS là cô tức ky vọng trên mỗi cổ phiếu 16 k, là chi phí sử dụng vốn Trên thực tế, mô hình chiết khẩu dòng cô tức được sử dụng khá rộng rãi bởi tính đơn giản và dê áp dụng cua nó. Hơn nữa, nó còn có thê ho trợ định giá đôi với các công ty có mức chỉ trả cô tức thay đổi theo thời đoạn.
Tuy nhiên, một nhược điểm lớn nhất của mồ hình chính là cô tức, có nghĩa là nêu công ty không có chính sách chi trả cô tức, hay có những năm không chia cô tức, hoặc mức chia cô tức nhỏ hơn nhiều so với lợi nhuận thì kết quả định giá dựa trên mô hình này sẽ không đúng. (Damodaran, 2005) Có thé phân thành 1, 2 hay 3 giai đoạn tăng trưởng cổ tức. Tuy nhiên, trong bài luận văn, do giới hạn về mặt thời gian và thông tin hỗ trợ, bài phân tích sẽ chỉ dừng lại ở việc áp dung mô hình DDM hai giai đoạn: giai đoạn tăng trưởng nhanh trong n năm và giai đoạn tăng trưởng ôn định với những năm sau đó: t=n t=1 ạ + Keng)" q + Keng)” (Ke st — gn)~ DPS, : cô tức kỳ vọng trong năm t K, : chi phí vốn chủ sở hữu (hg: giai đoạn tăng trưởng cao; st: giai đoạn tăng trưởng ồn định). Tuy nhiên, có khá nhiều tài liệu trong nước chấp nhận Keng = kes.
Trong bài phân tích, dé đơn giản hóa, tác giả cũng sé sử dụng chung | chi phí vốn chủ sở hữu cho cả 2 giai đoạn tăng trưởng. Pạ : giá trị vào cuối năm thứ n g: tỷ lệ tăng trưởng bất thường cho n năm đầu tiên øn : tỷ lệ tăng trưởng mãi mãi sau năm n 2. Mô hình chiết khẩu ngân lưu tự do của doanh nghiệp (FCFF) Mac dù cả 2 phương pháp FCFE và FCFF déu dẫn đến kết quả giống nhau nếu áp dụng đúng cách, nhưng phương pháp vốn chủ sở hữu rất khó thực hiện trong thực tế, khó khăn lớn nhất của phương pháp nay là xác định dòng tiền mặt với chi phí vốn chủ sở 17 hữu một cách chính xác. Hơn nữa, phương pháp FCFF đặc biệt có giá trị đối với các công ty hoạt động đa lĩnh vực.
(Tim Koller và cộng sự, 2005) Ngoài ra, mô hình FCFF phù hợp với những công ty có tỷ lệ đòn bay tài chính rất cao hoặc đang trong quá trình chuyển đối đòn bẫy tài chính. Trong những trường hợp này sẽ rất khó khăn cho việc tính dòng tiền tự do của vốn cổ phan vì khoản tiền thanh toán nợ vay (hay nợ mới phát hành) khiến dòng tiền không 6n định, đồng thời giá trị vốn cỗ phân (chiếm một phần nhỏ trong tổng giá trị công ty) cũng nhạy cảm hơn đối với những giả định tăng trưởng và mức độ rủi ro. (Damodaran, 2005) Giá trị của doanh nghiệp, trong trường hợp khái quát nhất, có thể được viết thành hiện giá của ngân lưu tự do kỳ vọng của doanh nghiệp đó ¬. Giả tri doanh nghiép = ) — i FCFF ace ĩ t=1 + ) Trong đó: - FCFF, là ngần lưu tự do của doanh nghiệp trong năm t - WACC là chi phí vốn bình quân có trọng số Nếu doanh nghiệp đạt đến trạng thái dừng sau n năm và bắt đầu tăng trưởng ở tốc độ ồn định g, sau đó, thì giá tri của doanh nghiệp có thể được viết thành: Le as .