CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN 1. Khái niệm từ Hán Việt Về khái niệm từ Hán Việt, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã có rất nhiều quan điểm khác nhau. Mỗi nhà nghiên cứu đưa ra nhận định của mình dựa trên những tiêu chí, khía cạnh, góc nhìn và cách giải quyết riêng. Năm 2000, tác giả Phan Ngọc viết trong cuốn Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả: “Xét về mặt lịch sử, một từ Hán Việt là một từ được viết ra bằng chữ khối vuông của Trung Quốc nhưng lại phát âm theo cách phát âm Hán Việt, người Việt vẫn dùng để đọc mọi văn bản viết bằng chữ Hán, dù đó là của người Hán hay của người Việt.
Xét về chữ, thì chỉ có chữ Hán mà không có chữ Hán Việt. Hán Việt chỉ là cách phát âm riêng của người Việt về chữ Hán”.26] Năm 2001, tác giả Đặng Đức Siêu viết về từ Hán Việt trong Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông như sau: “Từ Hán Việt là kết quả của quá trình giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ − văn hóa Việt Hán diễn ra hàng ngàn năm, trong đó chủ trương “chủ động” và “Việt hóa” là đường hướng chủ đạo, bộc lộ rõ tài chí thông minh sáng tạo của tổ tiên ta.34] Năm 2003, tác giả Nguyễn Như Ý đã định nghĩa về từ gốc Hán trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: “Từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán”.38] Năm 2005, các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt có viết “Từ Hán Việt là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn 2 (từ đời Đường trở về sau) mà người Việt đã đọc âm chuẩn (Trường An) của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình ”.13] 10 Năm 2007, tác giả Nguyễn Văn Khang định nghĩa về từ Hán Việt trong Từ ngoại lai trong tiếng Việt, tác giả cho rằng “Tất cả những từ Hán có cách đọc Hán Việt đã có ít nhất một lần sử dụng trong tiếng Việt như một đơn vị từ vựng trong văn cảnh giao tiếp thì đều được coi là từ Hán Việt”.23] Các nhận định trên giúp chúng ta hiểu rõ thêm về từ Hán Việt trên một số góc độ. Từ đó, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát về từ Hán Việt như sau: Từ Hán Việt là những từ vay mượn của tiếng Hán, đọc theo cách đọc Hán Việt, được tiếp nhận và trở thành một bộ phận hệ thống từ vựng tiếng Việt. Đặc điểm của từ Hán Việt 1.
Đặc điểm về cấu tạo Căn cứ vào số lượng âm tiết từ ngữ Hán Việt được chia thành 2 loại: Từ đơn âm tiết và từ đa âm tiết. Vì khuôn khổ của luận văn và từ Hán Việt đa âm tiết xuất hiện trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 chủ yếu là từ song tiết cho nên chúng tôi xin chỉ đề cập đến từ Hán Việt song tiết trong phần đặc điểm từ Hán Việt đa âm tiết. * Từ Hán Việt đơn âm tiết: Từ Hán Việt đơn âm tiết là từ chỉ có một âm tiết, có ý nghĩa rõ ràng, có khả năng hoạt động tự do kết hợp với các từ khác tạo câu trong tiếng Việt. Từ Hán Việt đơn tiết đã được Việt hóa cao độ, hoàn toàn giống với từ điển hình của tiếng Việt, nếu không nghiên cứu từ nguyên thì sẽ không biết nguồn gốc vay mượn đó của chúng.
Phần lớn từ Hán Việt đơn tiết là danh từ. Danh từ chỉ người như: thị, dân, ông, bà, quan, binh… Danh từ chỉ vật như: hoa, quả, bút, sách, đầu… Danh từ chỉ động vật như: hổ, báo, phượng, lân, hạc… “…Bát cháo húp xong rồi, thị Nở đỡ lấy bát cháo và múc thêm bát nữa. Hắn thấy mình đẫm bao nhiêu mồ hôi. Mồ hôi chảy ra trên đầu, trên mặt, những giọt to như giọt nước.
Hắn đưa tay quệt ngang một cái, quệt mũi, cười rồi lại ăn. Hắn càng ăn mồ hôi lại ra càng nhiều. Thị Nở nhìn hắn, lắc đầu, thương hại…” ( Nam Cao- Chí Phèo) [151.39] 11 Từ Hán Việt đơn tiết là động từ và tính từ tuy không nhiều bằng danh từ nhưng cũng được dùng khá phổ biến trong tiếng Việt. Động từ như: cầm, chỉ, cứu, sai, triệu…; Tính từ như : Xa, ác, khổ, nhục, tài… “… Sáu người né mình tiến vào như một bọn thợ nề, thận trọng khiêng cái thang gỗ đặt ngang trên vai…” ( Nguyễn Tuân- Chữ người tử tù) [110.39] “…Hắn chỉ thấy nhục, chứ yêu đương gì…” ( Nam Cao- Chí Phèo) [151.39] Những từ Hán Việt đơn tiết có khả năng hoạt động tự do, du nhập vào từ vựng tiếng Việt đã xung đột với những từ đồng âm, đồng nghĩa phi Hán Việt nhưng sau một thời gian dài từ Hán Việt vẫn tồn tại và phát triển là bởi chúng đã khẳng định được vai trò vị trí của mình với những nét riêng biệt trong tiếng Việt.
Từ Hán Việt đơn tiết có mặt trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trong các văn bản với tần suất cao. Do du nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt từ lâu đời với số lượng lớn nên các từ Hán Việt đơn tiết thường bị chính người Việt nhầm lẫn xếp vào mục các từ thuần Việt. Muốn phân biệt được chính xác từ Hán Việt đơn tiết trong một văn bản thì ngoài việc có kiến thức từ vựng gốc Hán còn phải luôn sử dụng từ điển Hán Việt để tra cứu, kiểm định. * Đặc điểm cấu tạo từ Hán Việt song tiết Dựa vào phương thức cấu tạo, từ Hán Việt song tiết được chia thành các loại sau: Từ ghép và từ láy.
Từ ghép bao gồm: từ ghép đẳng lập, từ ghép chính phụ, từ ghép chủ vị, từ ghép phụ gia và từ ghép trùng lặp. - Từ ghép a, Từ ghép đẳng lập Hán Việt là loại từ ghép được tạo thành bởi các thành tố cùng tính chất từ loại, theo quan hệ bình đẳng, để biểu thị ý nghĩa khái quát, tổng hợp và trừu tượng. Đây là loại từ ghép mà nghĩa của thành tố này bổ sung nghĩa cho thành tố kia để tạo nên một nghĩa hoàn chỉnh. Trong từ Hán Việt cấu trúc đẳng lập các yếu tố kết hợp tạo nên từ có thể mang tính chất danh từ, động từ hoặc tính từ.
Các yếu tố tạo từ có tính danh 12 từ như: thảo mộc, nhi đồng, phụ nữ, gia thất, phụ mẫu…; Các yếu tố tạo từ có tính chất động từ như: tiêu diệt, chế tạo, đấu tranh, đình chỉ, cung cấp…; Các yếu tố tạo từ chỉ tính chất như: vĩ đại, dũng mãnh, cùng khổ, kì quái, độc ác… Trật tự của các yếu tố trong từ ghép đẳng lập Hán Việt là cố định, vững chắc, nếu thay đổi vị trí các yếu tố sẽ dẫn đến sự thay đổi về nghĩa của từ. Ví dụ như: lai vãng - vãng lai… Tuy trật tự các yếu tố khó thay đổi nhưng có một số ít trường hợp đảo lộn vị trí các yếu tố cho nhau thì ý nghĩa của các từ vẫn giữ nguyên như: chung thủy – thủy chung, giản đơn – đơn giản… b, Từ ghép chính phụ là loại từ ghép được cấu tạo bởi một thành tố chính và một thành tố phụ. Đây là loại từ ghép mà nghĩa của thành tố này quy định, hạn chế, bổ sung nghĩa cho thành tố kia để tạo nên một nghĩa hoàn chỉnh. Các nét nghĩa của hai thành tố gắn bó hữu cơ với nhau.
Từ ghép chính phụ Hán Việt được chia làm hai loại: Từ ghép có yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau và từ ghép có yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau. Loại từ ghép có yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau số lượng không nhiều. Yếu tố chính có thể là yếu tố có tính chất động từ và tính từ. Yếu tố chính là yếu tố chỉ tính chất động từ như: cách mạng, xuất bản, nhập ngũ, khai sinh, phóng đại, thuyết minh, vệ sinh…; Yếu tố chính là yếu tố chỉ tính chất như: mãn ý, nhiệt tình, đoản mệnh, yên tâm, lợi tiểu… Loại từ ghép có yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau chiếm đa số trong từ ghép chính phụ.
Nguyên nhân vì đây chính là loại cấu trúc mang đặc trưng trật tự cú pháp Hán. Yếu tố chính là yếu tố có tính chất danh từ như: cổ thụ, lễ đường, quảng trường, sinh vật, hải quân…; Yếu tố chính là yếu tố có tính chất động từ như: cô lập, đại thắng, hậu tạ, tốc kí, cố tri…; Yếu tố chính là yếu tố chỉ tính chất như: công ích, dạ hương, đại hàn… c, Từ ghép chủ vị Hán Việt là loại từ ghép mà hai yếu tố kết hợp trong cấu trúc có mối quan hệ mang tính chất chủ vị. Một yếu tố là chủ ngữ, chủ thể trong cấu trúc và đứng trước. Yếu tố thứ hai đứng sau có tính chất vị ngữ chỉ 13 hoạt động, trạng thái, tính chất, đặc điểm… của chủ thể - yếu tố đứng trước.
Ví dụ như: dân chủ, nhân tạo, pháp định, địa chấn, dân lập… d, Từ ghép phụ gia là loại từ ghép trong cấu trúc một yếu tố có khả năng tạo từ cao kết hợp với một yếu tố khác. Yếu tố có khả năng tạo từ cao đứng trước như: bán, bất, vô, phi, siêu… Ví dụ: bán cầu, bán kính, bán dẫn, vô lí, vô học, vô can, phi nghĩa, phi pháp, phi thường, siêu thực, siêu trường, siêu trọng… Yếu tố có khả năng tạo từ cao đứng sau như: trưởng, viên, tính, giả, sĩ… Ví dụ: bộ trưởng, hiệu trưởng, cơ trưởng, nhân viên, giáo viên, đoàn viên, đảng tính, nhân tính, thú tính, tác giả, học giả, độc giả, chiến sĩ, họa sĩ, thi sĩ… e, Từ ghép trùng lặp Hán Việt là loại từ ghép được cấu tạo bởi hai yếu tố Hán Việt có kết cấu âm tiết và ý nghĩa hoàn toàn giống nhau. Loại từ ghép này trong tiếng Hán rất phổ biến như: nhân nhân, gia gia, xứ xứ, niên niên, thời thời… Trong tiếng Việt từ ghép Hán Việt trùng lặp có số lượng không nhiều. Ví dụ như: trùng trùng, song song.
- Từ láy Từ láy Hán Việt cũng như từ láy trong tiếng Việt phải đảm bảo các thành tố trong từ láy có quan hệ về ngữ âm với nhau và có giá trị gợi tả, biểu cảm.