CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Câu và các bình diện nghiên cứu câu 1. Khái niệm câu Trong hệ thống ngôn ngữ, xét về mặt ngữ pháp, câu là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của ngôn ngữ, đơn vị lớn hơn câu như văn bản” là đơn vị thuộc về nghĩa, thuộc về ngôn ngữ trong sử dụng. Nếu so sánh câu với văn bản thì có thể nói một cách ngắn gọn: câu là đơn vị cấu trúc ngữ pháp mang nghĩa, văn bản là đơn vị nghĩa có cấu trúc và cấu trúc đó lấy câu là đơn vị cơ sở để xây dựng các đơn vị lớn hơn câu, là đoạn văn và văn bản.
Xét tổ chức nội bộ của câu, “câu là một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị ngữ (vị tố), và được dùng để diễn đạt một sự thể hay sự việc)”. Vị tố là yếu tố trung tâm (hạt nhân của câu về ngữ pháp và về nghĩa. Kết hợp hai mặt xem xét trên, định nghĩa của câu sẽ là: Câu (câu đơn) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị ngữ (vị tố), và được dùng để diễn đạt một sự thể (hay một sự việc). Có thể thấy rằng, định nghĩa câu như trên có tính khái quát cao, không phân biệt ngôn ngữ nói và viết, không phân biệt ngôn ngữ thuộc các loại hình khác nhau, chỉ tính kiểu nghĩa rõ nhất và tương đối ổn định trong một câu là nghĩa chỉ sự việc, chưa tính các kiểu nghĩa khác.
Ở Việt Nam, thời kỳ đầu của ngữ pháp tiếng Việt, những vấn đề về “văn phạm Việt Nam” nói chung và câu nói riêng mới được nghiên cứu ở mức “sơ khai”, phần lớn mô phỏng sách ngữ pháp của tiếng Pháp do đó vấn đề định nghĩa về câu thực sự chưa có gì thay đổi. Tác giả Trần Trọng Kim viết: “Câu lập thành do một mệnh đề có ý nghĩa lọn hẳn hoặc hai hay nhiều mệnh đề”. Còn Nguyễn Lân thì cho rằng: “Nhiều từ hợp lại mà biểu thị một ý dứt khoát về động tác, tình hình hoặc tính chất của sự 10 vật thì gọi là một câu”. [19; tr 19] Trong những năm gần đây, khi nghiên cứu về câu các nhà ngữ pháp học Việt Nam đã nhìn nhận với xu hướng mới đó là đồng thời dựa vào cả hai bình diện cấu trúc và ý nghĩa của câu.
Tiêu biểu là định nghĩa về câu của theo tác giả Diệp Quang Ban trong “Ngữ pháp tiếng Việt” (2005): “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [4; tr 107]. Theo Hoàng Trọng Phiến, câu phải đảm bảo cả về mặt ngữ pháp lẫn ngữ nghĩa. Dấu hiệu để nhận biết câu đó là ngữ điệu khi sử dụng.
Và trong “Nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ”, tác giả Đỗ Việt Hùng (2011) có nêu: “Câu là đơn vị ngôn ngữ do các từ ngữ kết hợp với nhau theo những quy tắc ngữ pháp nhất định, biểu thị một nội dung tương đối trọn vẹn, có chức năng thực hiện một hành động ngôn ngữ” [16; tr 27]. Nguyễn Thị Lương trong “câu tiếng Việt” cũng định nghĩa: “Câu là đơn vị ngôn ngữ không có sẵn, dùng để biểu thị sự tình, được tạo nên từ các đơn vị ngôn ngữ nhỏ hơn theo những quy tắc ngữ pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức riêng, được sử dụng trong giao tiếp nhằm thực hiện một hành động nói” [20; tr 17]. Các định nghĩa về câu trên đây đã chỉ ra cả hai mặt nội dung và hình thức câu. Các quan niệm, định nghĩa về câu của các tác giả là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp và câu phân loại theo mục đích phát ngôn của nhóm tác giả sách giáo khoa “Ngữ văn 6” (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống).
Các bình diện nghiên cứu câu 1. Kết học (syntactics) Kết học là bình diện nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với tín hiệu hay là bình diện của những mối quan hệ giữa các từ ngữ trong chức năng tạo câu. Bình diện kết học xem xét những vấn đề như thành phần ngữ pháp của câu, các kiểu cấu tạo ngữ pháp và các quan hệ ngữ pháp trong câu. Nghĩa học (semantics) Nghĩa học là bình diện nghĩa là nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với hiện thực khách quan được tín hiệu biểu thị.
Bình diện nghĩa học của câu được nghiên cứu hai thành phần nghĩa: nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả) và nghĩa tình thái (nghĩa liên nhân). Nghĩa biểu hiện của câu phản ánh một sự tình xảy ra trong thực tế. Đó là một sự tình hay một sự thể mà cốt lõi của nó được biểu hiện bằng vị từ và có sự tham gia của các tham tố quanh sự thể. Nghĩa miêu tả của câu liên quan tới khái niệm cấu trúc vị từ - tham tố.
Trong thế giới các sự vật, mỗi sự vật đều có thuộc tính riêng, phân biệt với các sự vật khác, đó là đặc trưng. Theo đó đặc trưng gắn liền với cấu trúc nghĩa biểu hiện. Chưa tính đến thế giới nghĩa biểu hiện, Tác giả Diệp Quang Ban gọi cấu trúc nghĩa biểu hiện là cấu trúc đặc trưng/quan hệ - vai nghĩa và cho rằng: “Xem xét nghĩa miêu tả của câu nghĩa là xem xét thành phần nghĩa phản ánh vật, việc, hiện tượng được nói tới trong câu, hay gọi chung là sự việc. Phân tích nghĩa của sự việc là chỉ ra phần đặc trưng/ quan hệ của sự việc và các thực thể tham gia vào sự việc” [2, tr 188].
Dụng học (pragmatics) Theo “Từ điển Bách khoa ngôn ngữ và ngôn ngữ học”, dụng học được hiểu như sau: “Dụng học là (bộ môn) nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ trong mối quan hệ với ngữ cảnh xã hội, đặc biệt là những ý nghĩa của phát ngôn xuất hiện trong các tình huống”. Đó là bình diện liên quan đến những yếu tố tham gia vào việc truyền tải và tiếp nhận văn bản: người nói, người nghe, 12 hoàn cảnh giao tiếp và đến ý định thông báo của người nói. Bình diện dụng học còn tính đến đặc điểm hay kiểu loại phong cách của văn bản. Phân loại câu Câu là một đơn vị có nhiều bình diện nên việc phân loại câu trong ngôn ngữ học hiện nay khá phức tạp, dựa vào những tiêu chí khác nhau.
Trong nghiên cứu ngữ pháp của câu, các nhà ngữ pháp học, nhà nghiên cứu câu thường phân loại câu dựa trên hai phương diện sau: - Phân loại câu dựa vào cấu tạo ngữ pháp. - Phân loại câu dựa vào mục đích phát ngôn. Tuy nhiên, cách phân loại câu dựa vào cấu trúc ngữ pháp và dựa vào mục đích phát ngôn cũng chưa có sự thống nhất. Đái Xuân Ninh (2008) chia câu ra làm hai loại: Câu bình thường và câu đặc biệt.
Tác giả Nguyễn Thị Thìn (2003) cũng chia câu thành hai loại nhưng không phải chia thành câu bình thường với câu đặc biệt hay câu đơn phần với câu song phần mà “căn cứ vào nòng cốt câu có thể phân chia thành hai loại câu: câu đơn, câu ghép” [29; tr 111]. Rõ ràng việc phân loại câu cũng đang tồn tại nhiều kiểu khác nhau. Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất phân loại câu thành hai loại: câu về mặt cấu tạo ngữ pháp và câu dựa vào mục đích phát ngôn 1. Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp Nhìn chung để phân loại câu theo cấu trúc ngữ pháp các tác giả sách giáo khoa căn cứ vào cụm chủ - vị làm nòng cốt câu và căn cứ vào cụm chủ - vị các tác giả thống nhất phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp thành ba loại: câu đơn, câu phức, câu ghép.
Khái niệm Câu đơn là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc, trong một tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung 13 quanh một vị ngữ (vị tố), và được dùng để diễn đạt một sự thể (một sự việc) [3; tr 10]. Phân loại câu đơn Cấu tạo ngữ pháp của câu được xem xét trên cơ sở câu đơn, và câu đơn được xây dựng trên cơ sở một cấu trúc chủ-vi, cho nên cấu trúc chủ - vị được coi là cấu trúc cơ sở (hay nòng cốt) của câu đơn. Có thể hình dung cấu trúc cơ sở của câu như sau: Cấu trúc cơ sở = chủ ngữ + vị ngữ (= vị tố + bổ ngữ) Cấu trúc cơ sở của câu chính là mệnh đề ngôn ngữ của câu (phân biệt với “mệnh đề” của lôgic học). Trong câu, ngoài cấu trúc cơ sở còn có thể có một thành phần đi kèm cấu trúc cơ sở, chứ không nằm trong cấu trúc cơ sở, như thành phần chỉ hoàn cảnh không gian, thời gian mà thường được gọi là trạng ngữ (do cách đi kèm có tính chất “giúp thêm” này mà ngôn ngữ học hiện đại gọi nó là gia ngữ – adjunct: ‘trợ gia’ - thay cho tên gọi trạng ngữ) [3; tr 11].
Mối quan hệ giữa sự việc được diễn đạt với cấu trúc cú pháp của câu có thể hình dung qua lược đồ trong Bảng 1. Cấu trúc cú pháp của câu Cấu trúc cơ sở của câu Hôm nay bọn trẻ học toán Trạng ngữ (gia ngữ) Chủ ngữ Vị tố Bổ ngữ Cấu trúc cú pháp câu Trong câu thông thường không chỉ có các yếu tố liên quan trực tiếp đến sự việc được diễn đạt như trong sơ đồ trên, mà còn có những yếu tố khác với những chức năng khác, nằm ngoài cấu trúc cú pháp, chỉ gián tiếp liên quan đến sự việc diễn đạt trong câu. Những yếu tố này, nhìn chung gồm: - Yếu tố tình thái nêu ý định thực hiện hành động nói của người nói, như hành động hỏi, ra lệnh, vv. về cú pháp được gọi là biệt tố (disjunct), do nó không tham dự vào việc phản ánh sự việc được diễn đạt trong câu.
14 - Yếu tố tình thái chỉ độ tin cậy, ý kiến đối với việc được diễn đạt trong câu, như hình như, không chắc, có lẽ, (có thể đứng trước chủ ngữ),. về cú pháp cũng được gọi là biệt tố. - Yếu tố chỉ mối quan hệ của câu chứa nó với câu khác, hoặc với tình huống bên ngoài câu, về cú pháp được gọi là liên tố (conjunct).