Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI 1. Khái niệm tội mua bán người Theo Điều 3, Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị và trấn áp tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước TOC được thông qua theo Nghị Quyết số 55/25 ngày 15 tháng 11 năm 2000 của Đại hội đồng Liên hợp quốc), khái niệm “Buôn bán người” được hiểu như sau: (a) “Buôn bán người” là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực hay bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa gạt, hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người đang kiểm soát những người khác. Hành vi bóc lột sẽ bao gồm ít nhất việc bóc lột mại dâm hay những hình thức bóc lột tình dục, các hình thức lao động hay phục vụ cưỡng bức nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc lấy đi bộ phận cơ thể; (b) Việc một nạn nhân của buôn bán người chấp nhận sự bóc lột có chủ ý được nêu tại khoản (a) trên đây sẽ không được tính đến nếu bất kỳ một cách thức nào nêu trong khoản (a) đã được sử dụng; (c) Việc tuyển dụng, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận một đứa trẻ nhằm mục đích bóc lột bị coi là “buôn bán người” ngay cả khi việc này được thực hiện không cần dùng đến bất cứ hình thức nào được nói đến trong khoản (a) điều này; (d) “Trẻ em” có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi [21, tr 36]. 6 Từ định nghĩa buôn bán người được quy định trong Nghị định thư trên, có thể phân tích, buôn bán người bao gồm các yếu tố sau đây: - Về hành vi: Thực hiện một trong các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp (che giấu), tiếp nhận người.
- Về phương thức, thủ đoạn: Ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương của nạn nhân; cho hay nhận tiền hoặc lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soát đối với người khác. - Về mục đích: Bóc lột nạn nhân, bao gồm các hình thức bóc lột mại dâm hoặc hành vi bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc những hình thức tương tự như nô lệ, không được trả công hoặc trả rất rẻ mạt, môi trường lao động không an toàn (nặng nhọc, độc hại, kéo dài thời gian), phân biệt đối xử tàn tệ, lao động cưỡng bức hoặc có giao kèo nhưng dùng thủ đoạn vắt kiệt sức lao động, lấy đi những bộ phận cơ thể để phục vụ lợi ích riêng hay để thu lợi nhuận. - Về phạm vi: Buôn bán người thường có yếu tố di chuyển nhưng không nhất thiết phải vượt ra khỏi biên giới quốc gia, có thể xảy ra trong phạm vi một quốc gia, điều đó có nghĩa là đã rời khỏi gia đình, cộng đồng không phải nơi mà người đó sinh sống (từ địa bàn gốc, qua nơi trung chuyển và nơi đến). Ở Việt Nam hiện nay, khái niệm “mua bán người” vẫn là một thuật ngữ phức tạp và trong hệ thống pháp luật vẫn chưa có một khái niệm chính thống về thuật ngữ này.
Trong các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người của Việt Nam từ trước đến nay, kể cả Luật Phòng, chống mua bán người và BLHS đều không có điều khoản quy định về khái niệm mua bán người. Điều 3 Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 chỉ quy định các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm: Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo 7 khác; tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác hoặc để thực hiện hành vi đã quy định; cưỡng bức người khác thực hiện một trong các hành vi đã quy định; môi giới để người khác thực hiện một trong các hành vi được nêu trên; trả thù, đe dọa trả thù nạn nhân, người làm chứng, người tố giác, người tố cáo, người thân thích của họ hoặc người ngăn chặn hành vi theo quy định; lợi dụng hoạt động phòng, chống mua bán người để trục lợi, thực hiện các hành vi trái pháp luật; cản trở việc tố giác, tố cáo, khai báo và xử lý hành vi quy định tại Điều này; kỳ thị, phân biệt đối xử với nạn nhân; tiết lộ thông tin về nạn nhân khi chưa có sự đồng ý của họ hoặc người đại diện hợp pháp của nạn nhân; giả mạo là nạn nhân; hành vi khác vi phạm các quy định của Luật này [27]. Mua bán người là hành vi coi con người như hàng hóa để mua, bán, trao đổi lấy tiền hoặc lợi ích khác. Mua bán người bao gồm hai hành vi “Mua” và “Bán”, trao đổi qua lại và dùng lợi ích để trao đổi (Lợi ích vật chất hoặc tinh thần).
Đối tượng của tội mua bán người là con người không phân biệt giới tính. Theo quy định của BLHS năm 2015 về tội mua bán người (Điều 150) thì có thể thấy quan niệm về tội phạm mua bán người ở Việt Nam không còn bó hẹp như trước mà đã được mở rộng, phù hợp với Luật phòng, chống mua bán người năm 2011 và tiếp cận gần với quan niệm buôn bán người của Nghị định thư nói trên, theo đó, mua bán người được hiểu bao gồm cả ba yếu tố: (1) Hành vi. (2) Phương thức, thủ đoạn. (3) Mục đích phạm tội.
Theo quy định của BLHS Việt Nam năm 2015 thì mục đích của hành vi mua bán người gồm có [8]: - Đối với hành vi chuyển giao hoặc tiếp nhận người: (1) Để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác. (2) Để bóc lột tình dục. (3) Để cưỡng bức lao động. (4) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân.
(5) Vì mục đích vô nhân đạo khác. 8 - Đối với hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người: Để thực hiện hành vi chuyển giao hoặc tiếp nhận người nhằm một trong các mục đích nêu trên. Mặc dù không có định nghĩa pháp lý chính thức về "mua bán người" nhưng trong thực tiễn đấu tranh, điều tra, xét xử tội phạm và căn cứ vào hành vi "mua bán" mà khái niệm "mua bán người" được hiểu là việc chuyển giao người từ một người hoặc một nhóm người sang một người hoặc một nhóm người khác để đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất. Hành vi “Mua bán người” được hiểu là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất khác để trao đổi người (từ đủ 16 tuổi trở lên) như một loại hàng hóa; cụ thể là một trong các hành vi sau đây: - Bán người cho người khác, không phụ thuộc vào mục đích của người mua; - Mua người để bán lại cho người khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này thế nào; - Dùng người như là tài sản để trao đổi, thanh toán; - Mua người để bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì các mục đích trái pháp luật khác.
Trên cơ sở khái quát trên, dưới góc độ lý luận, có thể hiểu tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật, cũng như xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, Nhà nước đã quy định hành vi nào là tội phạm và áp dụng TNHS và hình phạt đối với người đã thực hiện hành vi đó. Dưới góc độ pháp luật, theo quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 thì: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ 9 quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Trên cơ sở quan niệm, quy định nêu trên, có thể thấy rằng việc xem xét, đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mua bán người cần căn cứ vào các yếu tố CTTP của các hành vi phạm tội.
Từ đó, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, có thể khái niệm: Tội mua bán người là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý nhằm mua hoặc bán người vì lợi ích cá nhân hoặc vì mục đích khác và phải chịu hình phạt theo quy định của BLHS. Dấu hiệu pháp lý của tội mua bán người Dưới góc độ khoa học hình sự, tội phạm là hành vi có đủ những yếu tố CTTP, đó là khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm, đó chính là các dấu hiệu pháp lý của tội phạm được mô tả bằng các quy định cụ thể của BLHS. Bởi vậy, khi xem xét, áp dụng pháp luật để xử lý tội mua bán người, các nhà làm luật và áp dụng pháp luật phải dựa trên các CTTP nói chung, bao gồm: khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan. Điều này cũng có nghĩa là một hành vi nguy hiểm cho xã hội nếu không thỏa mãn 4 yếu tố cấu thành thì không bị coi là tội phạm và không phải chịu TNHS.
Qua nghiên cứu về tội mua bán người, có thể khái quát các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán người theo quy định hiện hành như sau: 1. Khách thể của tội phạm Theo quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 thì khách thể của Luật hình sự là những quan hệ xã hội được Nhà nước xác định cần bảo vệ bằng những 10 quy phạm pháp luật hình sự. Khách thể của tội phạm là những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ.