CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI HIẾP DÂM 1.1 Những vấn đề lý luận về tội hiếp dâm 1. Khái niệm, đặc điểm và các dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm Tội hiếp dâm là một trong 14 tội thuộc nhóm các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự. Trong những năm gần đây, đối với tội hiếp dâm, cách thức giao cấu rất đa dạng và đặc biệt xuất hiện tình trạng ép buộc hoặc cưỡng bức quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính; những người chuyển giới. Do vậy, để đảm bảo phản ánh đúng yêu cầu của thực tiễn đặt ra trong đấu tranh phòng chống các tội xâm hại tình dục thì, ngoài hành vi giao cấu, thì hành vi xâm hại tình dục khác cũng được coi là hành vi hiếp dâm.
Theo Giáo trình Luật hình sự Việt Nam Phần các tội phạm (quyển 1) của Trường Đại học Luật Hà Nội thì, Tội hiếp dâm được quy định là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân [37, tr. Như vậy, có thể hiểu hành vi hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực; đe dọa dùng vũ lực; lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu trái ý muốn của nạn nhân. So với quan điểm trên thì quan điểm này đã phản ánh được đầy đủ hơn nội hàm của khái niệm hiếp dâm. Tuy nhiên, để hiểu đúng khái niệm tội hiếp dâm cần phải làm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội này.
Thứ nhất, về khách thể của tội hiếp dâm: Ở Việt Nam, theo quy định của Hiến pháp, Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh 8 dự và nhân phẩm; mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm [21, Đ. Tội hiếp dâm như trên đã phân tích thuộc nhóm “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người”. Và quyền bất khả xâm phạm về tình dục là một quyền quan trọng được pháp luật ghi nhận và bảo vệ cũng chính là khách thể của tội hiếp dâm. Trước đây, khách thể của tội hiếp dâm được quan niệm là “quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người phụ nữ”.
Bởi lẽ, thực tiễn xét xử đã cho thấy được phụ nữ luôn là đối tượng dễ bị xâm phạm về tình dục. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không có sự phân biệt về giới đối với nạn nhân bị xâm hại tình dục. Chính vì thế, khách thể của tội hiếp dâm đã được nh́ n nhận một cách toàn diện hơn. Đó là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân.
Đối tượng tác động của tội hiếp dâm có thể là nam giới, nữ giới hoặc thậm chí là người đồng tính. Ngoài ra, theo pháp luật hình sự Việt Nam, đối tượng bị xâm hại là người chưa thành niên (từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi). Theo pháp luật hình sự Việt Nam, độ tuổi là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Tội hiếp dâm cũng không nằm ngoài việc đánh giá dựa trên độ tuổi.
Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi và sự phát triển tâm, sinh lý theo đúng độ tuổi đối với người chưa thành niên. Như vậy, khách thể của tội hiếp dâm là quan hệ nhân thân, quyền tự do tình dục của nạn nhân mà ở đó, hành vi phạm tội xâm phạm đến quyền tự do tính dục, nhân phẩm, danh dự của nạn nhân, xâm phạm đến sức khoẻ, gián tiếp xâm phạm tính mạng của nạn nhân. Mặt khách quan của tội hiếp dâm 9 Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan [7, tr. Hành vi khách quan của tội hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân.
- Dùng vũ lực: Là dùng sức mạnh về thể chất để họ không thể kháng cự được như vật ngã, đè, giữ tay, chân, bịt miệng, bóp cổ, đấm đá, trói, giằng xé quần áo,. của nạn nhân để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của họ; - Đe dọa dùng vũ lực: Là dùng lời nói, cử chỉ, động tác nhưng chưa tác động vào người nạn nhân, nhưng làm cho nạn nhân hiểu rằng nếu kẻ tấn công không giao cấu được thì sẽ sử dụng vũ lực ngay tức khắc. Ví dụ như dọa giết, đe dọa gây thương tích,.; - Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân: Là những trường hợp như nạn nhân bị bệnh nặng, say, già yếu, bất tỉnh. - Dùng thủ đoạn khác: Là những trường hợp người phạm tội đe dọa, khủng bố tinh thần, làm cho nạn nhân khiếp sợ, dùng thuốc mê, thuốc kích dục, say rượu hay các chất kích thích khác làm cho nạn nhân hạn chế hoặc mất khả năng chống cự; - Thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác Khoản 2 Điều 2 Dự thảo hướng dẫn một số điều của BLHS về tội dâm ô, hiếp dâm.
quy định: “Đây không phải là hành vi giao cấu nhưng vẫn làm thỏa mãn nhu cầu tình dục của người phạm tội.” Vậy, đối với trường hợp đối tượng phạm tội bắt người bị hại thực hiện những hành vi ấy cho mình thì giải quyết như thế nào? Đây cũng chính là điểm cần bổ sung về tình tiết định tội đối với quy định về Hành vi quan hệ tình dục khác trong BLHS. Mặt chủ quan của tội hiếp dâm Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm động cơ, mục đích và lỗi. Trong đó, lỗi là dấu hiệu không thể thiếu đối với bất cứ CTTP nào. Mục đích và động cơ tuy cũng là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm nhưng chúng chỉ được phản ánh trong một số CTTP cơ bản như là dấu hiệu bắt buộc hoặc là tình tiết định khung.
Lỗi ở đây được hiểu là quan hệ giữa cá nhân người phạm tội với xã hội khi họ thực hiện hành vi cụ thể gây nguy hiểm cho xã hội. Không thể nói đến lỗi khi không có hành vi cụ thể gây nguy hiểm cho xã hội. Lỗi gồm hai loại: lỗi cố ý và lỗi vô ý. Đối với tội hiếp dâm, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.
Người phạm tội nhận thức đầy đủ hành vi của mình (dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác và hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác) là nguy hiểm cho xã hội và trái ý muốn với nạn nhân song vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó. Việc xác định động cơ và mục đích của tội hiếp dâm có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ lỗi, đồng thời xác định tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Do đó, nó có ảnh hường không nhỏ đến quyết định hình phạt. 11 Chủ thể của tội hiếp dâm Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự là con người cụ thể, đang sống và là những người có điều kiện để có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Bên cạnh đó, chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực TNHS. Bởi lẽ, đối với những người như vậy mới có đủ điều kiện cho việc áp dụng biện pháp TNHS. Thêm vào đó, để có được năng lực TNHS, con người phải đạt độ tuổi nhất định. Chính vì thế, pháp luật hình sự Việt nam quy định độ tuổi là điều kiện của chủ thể tội phạm.
Nhiều ý kiến cho rằng, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội hiếp dâm là nam giới, nữ giới chỉ có thể tham gia trong vụ án hiếp dâm với vai trò là đồng phạm. Đối với BLHS 2015, chủ thể của tội hiếp dâm có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Từ sự phân tích trên, tội hiếp dâm có thể được hiểu như sau: Tội hiếp dâm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được thể hiện trên hình thức dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tội hiếp dâm Việc nghiên cứu tội phạm nói chung và tội hiếp dâm luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Bởi nếu ví việc nghiên cứu tội phạm mang lại kết quả là cho chúng ta một bức tranh toàn cảnh về tội phạm đã xảy ra thì nghiên cứu tội hiếp dâm như một mảnh ghép quan trọng cho tổng thể bức tranh lớn đó. Khi tiến hành nghiên cứu tội phạm nói chung hay tội hiếp dâm nói riêng, cần chú trọng đến hai mặt lý luận và thực tiến. Việc nghiên cứu tội hiếp dâm góp phần bảo vệ quyền con người nói chung cũng như quyền bất khả xâm phạm về nhân phẩm, danh dự, quyền bất khả xam phạm về tình dục, hay nói một cách khác là bảo vệ quyền và lợi ích 12 hợp pháp của bị hại; Xét về mặt thực tiễn, hiển nhiên, bất kì loại tội phạm nào cũng đều mang đến những thiệt hại đáng kể cho cá nhân, tập thể và toàn xã hội. Tội hiếp dâm là một trong những tội phạm nguy hiểm, xâm phạm quyền nhân thân của con người; Việc nghiên cứu tội hiếp dâm góp phần làm hiểu đúng hơn những vấn đề lý luận và từ đó góp phần hoàn thiện hơn quy định của pháp luật; Xét về mặt lý luận, để phù hợp với sự phát triển của xã hội, những quy định về tội hiếp dâm ngày càng được hoàn thiện phù hợp từ BLHS năm 1985, 1999, và mới nhất là BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2015.