CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 1. Tổng quan công tác quản lý Nhà nước về xây dựng 1. Khái quát về tình hình hoạt động xây dựng Việc đầu tư xây dựng có vai trò tác động đến tổng cung và tổng cầu, tác động đến sự ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế, tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước. Hàng năm Nhà nước dành khoảng hơn 20% tổng sản phẩm quốc nội cho đầu tư xây dựng cơ bản (công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, nông nghiệp,.) và đã đem lại hiệu quả đáng kể, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và phát triển chung của đất nước [1].
Trước hết xây dựng là một ngành đóng vai trò tiền đề tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác như nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp chế biến, giao thông thuỷ lợi,. cùng phát triển. Ngành xây dựng đã làm đổi mới bộ mặt của cả nước, những khu đô thị mới, những nhà cao tầng, những công trình kiến trúc đang mọc lên ngày càng nhiều, làm cho thành phố, đô thị, làng xã trở nên khang trang hơn, tươi đẹp hơn. Từ những con đường đi trong làng, trong xã cũng được xây dựng mới cho đến những con đường cao tốc rộng lớn nối liền các vùng kinh tế trọng điểm, hoàn thành giúp cho việc giao thông đi lại, vận tải trở nên dễ dàng hơn, thuận lợi hơn.
Tốc độ xây dựng đang gia tăng một cách mạnh mẽ, sôi động khắp nơi trong cả nước. Xét về các kết quả đạt được do ngành xây dựng trong nước đem lại thì ngành xây dựng đã có những chuyển biến tích cực, đã trở thành một ngành độc lập và có đóng góp to lớn trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vốn đầu tư dành cho xây dựng cơ bản ngày càng gia tăng, trong đó nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tỷ trọng của vốn Ngân sách Nhà nước dành cho đầu tư xây dựng cơ bản luôn chiếm từ 20% đến 25% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội dành cho ngành này.
Và nguồn vốn ngân sách cũng là nguồn vốn chủ đạo trong vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước. Nguồn này được dành cho xây lắp, mua sắm máy móc, thiết bị và cho xây dựng cơ bản khác. Tình hình hoạt động xây dựng trong những năm qua của Việt Nam đã có nhiều khởi sắc. Ngay từ cuối năm 2013 và các tháng đầu năm 2014, nhiều dự án phát triển giao thông được khởi công xây dựng và được các nhà thầu tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ để sớm đưa vào sử dụng, nhất là những dự án phát triển đường cao tốc 5 với phương thức đầu tư xã hội hóa (đường cao tốc Bến Lức - Long Thành, đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình; đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai,.
Bên cạnh đó, các dự án phát triển hạ tầng xã hội sử dụng vốn Nhà nước, vốn ODA cũng được các ngành, các cấp đẩy nhanh tiến độ thi công. Điều này được thể hiện qua hàng loạt dự án của Trung ương cũng như địa phương hoàn thành đưa vào sử dụng hoặc chuẩn bị đưa vào sử dụng trong thời gian tới như: cầu Nhật Tân và đường nối đến sân bay Nội Bài; cầu Đông Trù và đường 5 kéo dài; nhà ga T2 Nội Bài; đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và hàng loạt dự án được bổ sung nguồn vốn, đẩy nhanh tiến độ. Trong năm qua, nhu cầu xây dựng các công trình có vốn từ ngân sách Nhà nước, các công trình phục vụ cho xây dựng xã nông thôn mới tăng cao hơn năm trước; các doanh nghiệp tiếp cận được vốn vay ngân hàng với lãi suất ưu đãi, nhu cầu xây dựng nhà và các công trình phục vụ sản xuất kinh doanh ở khu vực dân cư có xu hướng tăng; giá cả vật tư xây dựng tương đối ổn định,. Ngoài ra, thị trường bất động sản đang ấm dần với nhiều dự án phát triển nhà ở được hoàn thành và bàn giao trong năm 2014, thị trường vật liệu xây dựng trong năm không có biến động lớn đã góp phần giảm bớt khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng.
Giá trị sản xuất xây dựng năm 2014 theo giá hiện hành ước tính đạt 849 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 84,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,9%; khu vực ngoài Nhà nước 709,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 83,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 54,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 6,5%. Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở đạt 354,8 nghìn tỷ đồng; công trình nhà không để ở đạt 136,7 nghìn tỷ đồng; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 257,3 nghìn tỷ đồng; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 100,2 nghìn tỷ đồng [2]. Mặc dù đạt được một số kết quả nhất định nhưng hoạt động xây dựng trong năm vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Thị trường bất động sản tuy đã có dấu hiệu tích cực song sự phục hồi chậm.
Tình trạng nợ đọng khối lượng từ những năm trước của các doanh nghiệp xây dựng chưa có hướng giải quyết triệt để. Bên cạnh đó, mặc dù lãi suất cho vay gần đây đã được điều chỉnh giảm nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn nên sản xuất kinh doanh chưa thực sự phát triển mạnh, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều dự án phát triển đô thị đầu tư giàn trải, manh mún, thiếu nguồn lực thực hiện dẫn đến chậm tiến độ, thậm chí là dự án treo, làm lãng phí các nguồn lực xã hội nhất là tài nguyên đất đai, tác động tiêu cực đến thị trường bất động sản. 6 Phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2014 được nêu trong Bảng 1.1: Vốn đầu tư phát triển của Ngành xây dựng năm 2014 Đơn vị tính: tỷ đồng; Cả năm Năm 2014 so với năm Nguồn vốn 2014 2013 (%) Vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước 207,7 100,3 Vốn trái phiếu Chính phủ 62,5 111,4 Vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà 55,9 119,2 nước Vốn vay từ các nguồn khác 79,8 134,1 Vốn đầu tư của Doanh nghiệp Nhà nước 60,5 121,7 Vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 468,5 113,6 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 265,4 110,5 Vốn huy động khác 79,6 131,9 Tổng số vốn 1220,7 111,5 (Nguồn: Báo cáo Tổng kết ngành xây dựng năm 2014 - Bộ xây dựng) 1.
Thực trạng và đánh giá về hoạt động quản lý xây dựng 1. Thực trạng về hoạt động quản lý xây dựng của ngành xây dựng Từ năm 2010 đến nay, ngành Xây dựng bước vào thời kỳ chiến lược mới trong bối cảnh thế giới đang thay đổi nhanh, toàn diện, phức tạp. Xu thế toàn cầu hóa tiếp tục gia tăng về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện, có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế cả nước nói chung và ngành xây dựng nói riêng. Trong bối cảnh đó, hệ thống pháp luật ngành xây dựng tiếp tục được tập trung rà soát, nghiên cứu hoàn thiện và đổi mới với các quan điểm, tư tưởng chủ đạo: đảm bảo tính đồng bộ, nâng cao chất lượng, phù hợp với thực tiễn, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng, đặc biệt các lĩnh vực: Quản lý đầu tư xây dựng, phát triển đô thị, nhà ở và thị trường bất động sản,.; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi nhằm thu hút và phát huy mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhưng đồng thời tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành; hạn chế thất thoát lãng phí, tiêu cực, 7 nhất là đối với các dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước.
Với cố gắng của các cơ quan, ban ngành trong cả nước trên lĩnh vực quản lý các hoạt động xây dựng, trong năm qua, toàn ngành đã hoàn thành các nhiệm vụ: 1. Quản lý đầu tư xây dựng, chất lượng công trình Tình hình chất lượng các công trình xây dựng về cơ bản là đảm bảo, xu hướng chất lượng ngày một nâng cao và được kiểm soát tốt hơn. Việc kiểm tra công tác nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng của cơ quan quản lý nhà nước đã được các cơ quan chuyên môn về xây dựng ở địa phương triển khai thực hiện nghiêm túc, góp phần kiểm soát chặt chẽ chất lượng công trình. Tỷ lệ số công trình chấp thuận nghiệm thu đưa vào sử dụng chiếm khoảng 97% tổng số công trình được kiểm tra, chỉ có 3% số công trình không được chấp thuận nghiệm thu do có vi phạm về chất lượng.
Hầu hết các công trình xây dựng đã hoàn thành được nghiệm thu đưa vào sử dụng đều đảm bảo thực hiện đúng quy trình kiểm tra chất lượng. Các công trình đang triển khai thi công xây lắp về cơ bản đã được kiểm soát, đảm bảo yêu cầu, không có sự cố lớn về chất lượng.1: Đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai mới đưa vào sử dụng Công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng công trình xây dựng tiếp tục được tăng cường trên phạm vi cả nước, nhất là đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước. Việc thực hiện “tiền kiểm” thiết kế kỹ thuật và dự toán các công trình đã tạo ra bước độ phá trong phòng chống lãng phí, tham nhũng, phòng ngừa được nhiều sai phạm, rủi ro trước khi triển khai thi công xây dựng công trình. Sau gần 02 năm thực hiện công tác thẩm tra thiết kế và dự toán đã đi vào nền nếp, chất lượng thiết kế đã được nâng lên, đã cắt giảm và tiết kiệm đáng kể chi phí cho ngân sách.
Trong năm 2014, có 61 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong cả nước đã thực hiện thẩm tra 15.341 công trình, tỷ lệ hồ sơ thiết kế phải sửa đổi bổ sung chiếm 8 khoảng 43,8% số hồ sơ được thẩm tra; tổng giá trị dự toán trước thẩm tra khoảng 108.240 tỷ đồng, giá trị cắt giảm sau khi thẩm tra là 5.833 tỷ đồn, tương ứng 5,39% [2]. Một số công trình lớn đã được nghiệm thu hoàn thành đưa vào sử dụng trong thời gian qua đã và đang vận hành an toàn, phát huy được hiệu quả như: Nhà máy thủy điện Sơn La, Nhà máy đạm Cà Mau, Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc,. Đối với các công trình trọng điểm, liên quan đến an toàn của cộng đồng, trước khi nghiệm thu, đưa vào khai thác sử dụng (Thủy điện Sơn La), hoặc đánh giá động đất kích thích (Thủy điện Sông Tranh 2), các cơ quan quản lý nhà nước đã thực hiện thuê tư vấn nước ngoài.