Chương 1: Những vấn đề lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động. Chương 2: Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho người lao động tại Công ty Cô phần Công nghệ Gỗ Đại Thành. Chương 3: Giải pháp tạo động lực làm việc cho người lao động tại Công ty Cô phần Công nghệ Gỗ Đại Thành. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Có nhiều quan điểm khác nhau về động lực lao động được đưa ra bởi Maier va Lauler (1973), Bedeian (1993), Kreitner (1995), Higgins (1994) và khang định tạo động lực làm việc cho người lao động là một trong những nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Một vài tài liệu đề cập đến hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tạo động lực: nhóm yếu tố thuộc bản thân người lao động và nhóm yếu tố môi trường. Các nhà nghiên cứu còn chỉ ra cách tiếp cận với tạo động lực theo bốn cách khác nhau, gồm: cách tiếp cận truyền thống, tiếp cận theo các mối quan hệ con người, cách tiếp cận nguồn lực con người, và tiếp cận hiện đại về động cơ có thưởng. Cách tiếp cận hiện đại đối với tạo động lực làm việc được thể hiện qua ba nhóm lý thuyết sau: % Các lý thuyết về nội dung (của Maslow, Alderfer, McClelland, Herzberg) nhấn mạnh đến các nhu cầu, như là nguồn gốc tạo ra động lực thúc đây con người. Ở bắt kỳ giai đoạn nào thì con người cũng đều có các nhu cầu cơ bản như: ăn, sự thành đạt hay tiền bạc.
Những nhu cầu này đã trở thành động lực bên trong thúc đây nỗ lực hành động theo hướng nhằm thỏa mãn nhu cầu. Những nhu cầu của một cá nhân là đòi hỏi khách quan bên trong thê hiện sự mong muốn và sẽ nỗ lực làm việc để thỏa mãn những nhu cầu đó. Từ việc hiểu biết nhu cầu của nhân viên, nhà quản trị xây dựng hệ thống phần thưởng trong tô chức nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ, qua đó hướng sự nỗ lực của họ đến việc hoàn thành mục tiêu chung của tô chức. % Các lý thuyết theo tiến trinh (cla Stacy Adams, Victor Vroom, L.Lawler) giải thích làm thế nào nhân viên lựa chọn các hành vi dé dap ứng nhu cầu của họ và xác định liệu những lựa chọn của họ thành công hay không.
> Ly thuyết về sự tăng cường (củng cố) chi ra rằng hành vi là một chức năng chịu sự chỉ phối của hậu quả (phần thưởng hay hình phạt). Những hành vi được khen thưởng là những hành vi được khuyến khích lặp lại, còn những hành vi bị phạt là những hành vi cần tránh. Thuyết tăng cường chú trọng mối quan hệ giữa hành vi và kết quả, nó tập trung vào việc thay đổi hoặc sửa chữa hành vi của nhân viên đối với công việc qua việc sử dụng phần thưởng hay hình phạt một cách thích hợp. Vận dụng các lý thuyết trên, một vài nghiên cứu chỉ ra các yếu tố tạo động lực và cách thực hiện: * Theo Giáo trình Quản trị học của Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, những cách thức mà nhà quản trị có thê sử dụng đề động viên nhân viên tại nơi làm việc bao gồm: - Thiết kế công việc mang tính thúc đây: Đơn giản hóa công việc; Sự luân chuyên công việc; Sự mở rộng công việc; Làm phong phú công việc; Mô hình đặc điểm công việc.
- Động viên tại nơi làm việc mới: Giao quyền và tạo ý nghĩa cho công VIỆC. * Theo tài liệu “The Performance Appraisal Question and Answer Book A Survival guide for managers” [12, tr. 57], khi đề cập đến nhà quản trị tác giả cho rằng có 6 kỹ thuật tạo động lực làm việc: 1) Tạo cơ hội cho thành tích và thành tựu. 2) Giao quyền cho nhân viên, được tự do ra quyết định và tự chủ trong việc thực hiện.
3) Tạo cơ hội được đào tạo và phát triển. 4) Tăng cường số lượng các thách thức. 5) Hãy chắc chắn bản thân công việc vốn đã có khả năng tạo động lực. 6) Được công nhận.
Theo bài báo “Phát huy nguồn nhân lực bằng động lực thúc đây” trên Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà nẵng - Số 4(39).2010 cho rằng để nâng cao động lực thúc đây người lao động có những cách thức sau: 1) Bằng yếu tố vật chất 2) Bằng yếu tố tinh thần 3) Cai thiện điều kiện làm việc 4) Sự thăng tiến hợp lý 5) Thay đôi vị trí làm việc + Đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ “Giải pháp nâng cao động lực thúc đây nhân viên tại Công ty cấp nước Đà Nẵng” [10] của học viên Mai Thị Ánh Tuyết đề cập đến 6 công cụ tạo động lực thúc đây nhân viên làm việc: 1) Công tác tiền lương 2) Công tác thi đua, khen thưởng 3)_ Cơ hội thăng tiến 4) Công tác đào tạo 5)_ Cải thiện điều kiện làm việc 6) Tạo môi trường văn hóa doanh nghiệp Dé tai luận văn tốt nghiệp thạc sĩ “Các giải pháp tạo động lực làm việc cho người lao động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội - Đà Nẵng” [8] của học viên Nguyễn Đức Toàn có các công cụ tạo động lực làm việc như sau: 1) Các khuyến khích tài chính như: tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi. 2)_ Các khuyến khích phi tài chính như: bản thân công việc, môi trường làm việc, công tác đào tạo nguồn nhân lực, đánh giá thực hiện công việc. Như vậy, qua các nghiên cứu trước đây về tạo động lực làm việc cho người lao động có thé kết luận rằng bản chất của động lực lao động là nhu cầu và lợi ích. Do đó, trong thực tiễn việc tạo động lực làm việc không thê áp dụng đơn thuần một lý thuyết nào mà đó phải là sự vận dụng tổng hợp các lý thuyết tùy theo công việc, đối tượng, môi trường.
Điều quan trọng là doanh nghiệp phải biết người lao động của mình muốn gì, sau đó xem mình có thể đáp ứng họ ở những vấn đề gì và ở mức độ nào, rồi từ đó lựa chọn và đưa ra các phương án phù hợp nhằm “lèo lái” nhu cầu cá nhân đi cùng với mục tiêu phát triên của doanh nghiệp. Từ những quan niệm trên, tác giả đề xuất 7 công cụ tạo động lực làm việc cho người lao động phù hợp với điều kiện tại Công ty Cổ phần Công nghệ Gỗ Đại Thành như sau: 1) Tạo động lực làm việc bằng chính sách tiền lương 2) Tạo động lực làm việc bằng cải thiện điều kiện làm việc 3) Tạo động lực làm việc bằng phương pháp lãnh đạo 4) Tạo động lực làm việc bằng cách thiết kế công việc mang tính thúc đây 5) Tạo động lực làm việc bằng đánh giá thành tích 6) Tạo động lực làm việc thông qua công tác đào tạo 7) Tạo động lực làm việc bằng thăng tiến hợp lý CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN VE TAO DONG LỰC LAM VIEC CHO NGUOI LAO DONG 1. MOT SO KHAI NIEM CO BAN 1. Nhu cầu “Nhu cầu là những đòi hỏi của con người muốn có điều kiện nhất định để sống và phát triển.
Hay nhu cầu là tính chất của cơ thể sống biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thê đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống”.138] Nhu cầu rất đa dạng, gồm nhiều loại khác nhau: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu thiết yếu, nhu cầu không thiết yếu, nhu cầu trước mắt và nhu cầu lau dai. Nhu cầu luôn luôn tồn tại trong mỗi con người và là một phạm trù tồn tại vĩnh viễn trong mọi chế độ xã hội. Con người thường có xu hướng tìm cách thỏa mãn nhu cầu đó khi nó xuất hiện. Nhưng không có một nhu cầu nào được thỏa mãn hoàn toàn mà chỉ được thỏa mãn đến một mức độ nào đó.
Khi một nhu cầu được thỏa mãn thì sẽ xuất hiện một nhu cầu mới và lại thúc đây con người hành động để thỏa mãn nhu cầu mới đó. Động cơ thúc đấy “Động cơ ám chỉ những nỗ lực bên trong lẫn bên ngoài của một con người, có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuôi một cách thức hành động đã xác định”.201] Động cơ làm ảnh hưởng tới hiệu suất công việc của nhân viên. Vì vậy, một phần trong công việc của nhà quản trị là phải hướng những động cơ đó vào việc hoàn thành mục tiêu chung của tô chức. Nghiên cứu động cơ thúc đây sẽ giúp nhà quản trị hiểu được cái gì đã thôi thúc mọi người hành động, cái gì đã ảnh hưởng đến sự lựa chọn hành động và tại sao họ lại kiên trì theo đuổi hành động đó, từ đó định hướng sử dụng các công cụ để động viên họ hãng hái, tích cực và nhiệt tình hơn trong công việc.
Động lực làm việc Có rất nhiều quan niệm khác nhau về động lực làm việc. Kreiter cho rằng động lực làm việc là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định. Higgins đưa ra khái niệm động lực là lực đây từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. Còn theo Giáo trình Hành vi tô chức của Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân thì động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tô chức cũng như bản thân người lao động. Những khái niệm trên đây tuy có khác nhau nhưng đều thể hiện được bản chất của động lực gồm những điểm như sau: Động lực lao động luôn gắn với một công việc cụ thể, một tô chức, một môi trường làm việc cụ thê. Như vậy phải hiểu rõ về công việc và môi trường làm việc thì mới có thể đưa ra biện pháp tạo động lực cho người lao động. Động lực làm việc luôn mang tính tự nguyện.
Nếu bị ép buộc hoặc làm việc một cách bị động chắc chắn kết quả công việc sẽ kém và chất lượng công việc sẽ không cao. Vì vậy nhà quản lý phải có nghệ thuật để tăng cường tính tự giác, tự nguyện của người lao động để tạo động lực làm việc nhằm thu được kết quả thực hiện công việc thật tốt và có khi ngoài mong đợi. Động lực làm việc không phải là đặc tính cá nhân. Con người khi sinh ra không ai đã có sẵn tính cách này, nó cũng không phải là cái cố hữu mà thường xuyên thay đổi.
Tùy từng giai đoạn mà mỗi người có thể có động lực làm việc rất cao hoặc động lực chưa chắc đã tồn tại.