Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NGUON NHÂN LỰC CHUYEN DOI SO VÀ PHAT TRIEN NGUÒN NHÂN LỰC CHUYEN DOI SO TRONG DOANH NGHIEP 1. Tổng quan tinh hình nghiên cứu 11. Tình hình nghiên cứu trong nước Trong thời gian gần đây, vấn đề phát triển nguồn nhân lực đã thu hút sự quan tâm của không ít những nhà quản lý, nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các trường đại học. Cho đến hiện tại, đã có nhiều bài viết, nhiều đề tài, công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này.
Đầu tiên phải kể đến công trình khoa học cấp nhà nước với sự tham gia của gần 300 tác giả do GS.TS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm đề tài:“Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội”. Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra cách nhìn tương đối toàn diện, sâu sắc về con người Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước. "Các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa” - PGS.TS Mai Quốc Chánh (1999), NXB Chính trị Quốc gia Hồ Chi Minh. Tác giả đã đưa ra những hiểu biết cơ bản về nguồn nhân lực, thực trạng nguồn nhân lực.
Đồng thời đưa ra các giải pháp dé nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa. “Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực con người ở Việt Nam” - TS. Nguyễn Hữu Dũng, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội 2003. Tác giả đã làm rõ về nguồn nhân lực, các tác động của nguồn nhân lực đến phát triển kinh tế - xã hội.
Từ đó, đưa ra các giải pháp sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực ở nước ta. “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần phát triển bền vững Việt Nam” - Chu Văn Cấp. Bài viết đã trình bày về những vấn đề lý luận, thực tiễn cơ bản của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và sự góp phần phát triển bền vững Việt Nam trong giai đoạn mới; đưa ra giải pháp phát triển nguồn nhân lực. Trần Văn Tùng, NXB Thế giới, Hà Nội, 2005 “Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng”, tác giả đã được ra những kinh nghiệm trong việc phát hiện dao tạo va sử dụng tài năng khoa học - công nghệ sản xuất kinh doanh của Mỹ và một số quốc gia khác như Anh, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc.
Thông qua kinh nghiệm của các nước, tác giả đã đề cập đến việc đổi mới các chính sách đảo tạo, bôi dưỡng và sử dụng nguồn lực hiện có tại Việt Nam. 5 Cuốn sách của tác giả có ý nghĩa rất lớn đối với thực tiễn phát triển nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đổi mới đất nước. Phan Văn Kha, NXB Giáo dục, 2007 “Dao tạo và sử dụng nhân lực trong nên kinh tế thị trường ở Việt Nam”, tác giả đã đưa ra các khái niệm và nội dung cơ bản về đảo tạo, sử dụng nguồn nhân lực. Từ đó, tác giả đã đưa ra các chiến lược nhằm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Phạm Công Nhất, Tạp chí Cộng sản số 786, tháng 4 năm 2008 “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế” cũng đã đưa ra những đánh giá thực trạng về lượng cũng như chất lượng nhân lực của nước ta hiện nay. Thông qua việc phân tích những nguyên nhân yếu kém về chất lượng nhân lực tac giả đã đưa ra một số giải pháp, đề xuất dé phát triển nhân lực nhằm đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Lê Thị Mỹ Linh, luận án tiến sĩ Trường Đại học Kinh tế quốc dân, 2010 “Phát triển nguồn nhân lực vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế” đã làm sáng tỏ những van dé liên quan đến dao tạo, phát triển nguồn nhân lực nói chung và tại các DN vừa và nhỏ nói riêng. Từ đó, tìm ra nguyên nhân và đưa ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực vừa và nhỏ trong tiến trình đất nước hội nhập.
Nguyễn Văn Hân, tạp chí khoa học và Công nghệ - Dai hoc Da Nang (2012) “Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam”, tác giả đã nhận định chất lượng đội ngũ nhân viên là yếu tố quyết định sức mạnh của tổ chức. Từ những tìm hiểu, đánh giá mong muốn của khách hàng đối với nhân viên, bài viết để xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phục vụ cũng như khả năng giao tiếp của đội ngũ nhân viên tại ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam. Phạm Văn Sơn, Báo giáo dục thời đại, 2015 “7 giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực Việt Nam”, tác giả đã đưa ra 7 nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nhân lực gồm: “Nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng lao động, khuyến khích lao động tự học, gắn chiến lược phát triển nhân lực với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, trọng nhân tài và xây dựng xã hội học tập, cải thiện thông tin về thị trường lao động mở rộng hợp tác quốc tế”. Trần Đình Thảo (2018), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học.
Tác giả đã nêu nôi bật vai trò của NNL chất lượng cao đối với sự phát triển KT - XH và đưa ra các giải pháp triển NNL chất lượng 6 cao ở Việt Nam hiện nay trong đó tác giả đặc biệt quan tâm, nhấn mạnh tới công tác tuyên truyền, phổ biến dé mọi cơ quan, tổ chức, toàn xã hội và cá nhân người lao động nhận thức được vai trò của NNL chất lượng cao đối với sự phát triển của xã hội. Đoàn Anh Tuan (2020), Luận án tiến sĩ “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tập đoàn Dâu khí Quốc gia Việt Nam”, chủ yêu phân tích nguồn nhân lực ngành dầu khí các công ty trong ngành dầu khí với mục tiêu nghiên cứu nâng cao chất lượng. Theo tác giả, nội dung cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là: Tăng khả năng trí tuệ. Nâng cao phẩm chất, đạo đức, tư tưởng, tác phong công nghiệp, gắn bó với tô chức.
cải thiện tình trạng bệnh. Với phương thức chủ yếu là mô tả, bảng câu hỏi được sử dụng dé kiểm tra và điều tra thực trạng các hoạt động nhằm nâng cao trí tuệ, tinh thần và thé chất. Từ đó, tác giả đưa ra đánh giá chung về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Tập đoàn Dau khí Quốc gia Việt Nam. Nguyễn Thanh Vũ (2022) đã xác định 9 nhân tố có thể ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực trong bài viết “Nghiên cứu các nhân tô ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp may tỉnh Tiên Giang”.
Có năm yếu tố trong môi trường nội bộ của công ty. Sử dụng phương pháp phân tích nhân tổ khám phá (EFA), nhóm tác giả khẳng định có 9 nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển nhân tài của các doanh nghiệp may mặc trên địa bản tỉnh Tiền Giang. Tình hình nghiên cứu quốc té Trong các đề tài nghiên cứu nước ngoài, liên quan đến đề tài tác giả đang tìm hiểu có một số nghiên cứu nôi bật sau: Uddin (2016) sử dung dit liệu từ các t6 chức đang hoạt động trên khắp thé giới để hoàn thành nghiên cứu “Tác động của phát triển nguồn nhân lực đối với hoạt động của tô chức, sử dụng các công cụ phân tích để xác định sự khác biệt giữa tô chức và các tình huống ngẫu nhiên, con người và sự phát triển, kỹ năng, thái độ, hành vi và hiệu suất của tổ chức”. Kết quả cho thấy phát triển nguồn nhân lực có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của tổ chức, cho thấy tác động đến các kỹ năng, thái độ và cho thấy nó sẽ được giảm thiêu bởi tình huống.
Do đó, bài viết này không chi khang định rằng phát triển nguồn nhân lực có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của tô chức, mà còn mô tả cơ chế mà phát triển nguồn nhân lực cải thiện hiệu quả hoạt động của tô chức. Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu nay là dữ liệu và tai liệu được thu thập từ nhiều sách và tạp chí liên quan đến phát triển nguồn nhân lực và hiệu quả hoạt động của tô chức. 7 Bài báo “Phát triển nguồn nhân lực và hiệu suất tô chức ở Bonnie, Công ty TNHH Khí tự nhiên hóa long Nigeria” của Mba Okechukwu Agwu và Tonye Ogiriki (2020) tập trung vào phát triển nguồn nhân lực (HRD) trong các công ty LNG cua Nigeria. Các tác gia coi HRD là việc sử dụng tích hợp dao tạo và phát triển, phát triển tô chức và phát triển nghề nghiệp dé cải thiện hiệu suất của cá nhân, nhóm và tô chức.
Thực tiễn phát triển nguồn nhân lực được cho là có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc cải thiện hiệu suất của tổ chức băng cách cải thiện các kỹ năng, thái độ và hành vi làm việc. Việc sử dụng Mẫu 370 bị hạn chế đối với các nhà thầu trực tiếp, nhà thầu và nhà thầu phụ (184 trực tiếp, 149 hợp đồng và 37 nhân viên đặc biệt) làm việc trong các khu công nghiệp thuộc sở hữu của các công ty LNG của Nigeria. Một mẫu người trả lời đã được chọn bằng phương pháp xáo trộn thẻ (không hoán đổi). Theo cách này, mỗi thẻ nhỏ được viết tên riêng của cả ba công nhân và tên trên cùng của mỗi nhóm trong số ba nhóm thẻ được viết mỗi lần.
Sau khi được chọn, các thẻ sẽ được xáo trộn cho đến khi tất cả các cá nhân được chọn đã được phỏng vấn. Dữ liệu thu thập được phân tích bằng thống kê mô tả và suy luận. Bảng câu hỏi được thiết kế theo thang đo Likert bốn điểm. Các câu trả lời được trình bày dưới dang dữ liệu bảng và các giả thuyết được kiểm tra bằng phân tích phương sai (ANOVA).
Kết quả phân tích dữ liệu cho thấy các công ty gas có mối tương quan đáng ké giữa các hoạt động HRD (đào tạo và phát triển), động lực/sự gắn kết của nhân viên và tăng năng suất của tô chức. Một nghiên cứu của Anastasia A. Katou (2009): “Tac động của phát triển nguồn nhân lực đến hiệu quả hoạt động của tô chức: Thử nghiệm mô hình nhân qua, sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) dé kiểm tra mối quan hệ giữa HRD và hiệu suất của tổ chức”.