Chương 1: Cơ sở lí luận về nguồn gốc xuất xứ quốc gia, thái độ và ý định mua của người tiêu dùng. Chương 2: Tiên trình nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu 6. Tong quan tài liệu nghiên cứu Có rất nhiều tài liệu có thể được tìm thấy trong lĩnh vực nghiên cứu tác động của nguồn gốc xuất xuất quốc gia đến thái độ và ý định mua của người tiêu dùng.
Các nghiên cứu này chủ yếu là nghiên cứu cứu tác động của nguồn gốc xuất xuất quốc gia đến thái độ, ý định mua của người dân ở các nước công nghiệp hóa, các nước phát triển đối với một trong hai loại sản phâm khác nhau hoặc các sản phẩm mang nhãn hiệu như ngành công nghiệp quần áo và ngành công nghiệp ô tô. Các nghiên cứu về tác động của nguồn gốc xuất xuất quốc gia ở các nước đang phát triên như Việt Nam. hoặc các sản phẩm không mang một thương hiệu cụ thê nào không nhiều. Đối với nghiên cứu về tác động của nguồn gốc xuất xứ quốc gia, có một số tài liệu là quan trọng cho nghiên cứu này.
Nghiên cứu của Amine & Shin (2000) [9], so sánh quốc tịch của người tiêu dùng như là một yếu tố quyết định đến sở thích nguồn gốc xuất xứ quốc gia, trong đó lưu ý về tầm quan trọng của nguồn gốc xuất xứ quốc gia. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng đề cập đến ảnh hưởng của nguồn gốc xuất xứ quốc gia trong quá trình đánh giá sản phẩm. Nguồn gốc xuất xứ quốc gia ảnh hưởng đến người tiêu dùng ở các nước đang phát triển nhiều hơn so với các nước phát triển vì người tiêu dùng ở các nước phát triển có một tinh thần dân tộc cao hơn. Nghiên cứu của Han & Terpstra (1988) [12], nghiên cứu tác động của nguồn gốc xuất xứ quốc gia đến thái độ của người tiêu dùng, nghiên cứu kết luận rằng tác động này lớn hơn so với thương hiệu, thậm chí kể cả thương hiệu nồi tiếng cũng không thể thay đổi thái độ tiêu cực của khách hàng đối với sản phẩm được sản xuất tại một đất nước phát triển.
Minh hoạ như Walkman, nhãn hiệu Sony có nguồn gốc ở Nhật Bản, khi nó được sản xuất ở một quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, điều này làm cho khách hàng không muốn mua Sony Walkman sản xuất tại Trung Quốc mặc dù Sony là thương hiệu nỗi tiếng. Thông thường, người ta mua nhãn hiệu Sony bởi vì họ có thé tin tưởng các quốc gia xuất xứ của Sony Nhật Bản. Điều này có liên quan đến Việt Nam, là một trong những quốc gia được lựa chọn trong nghiên cứu này. Nghiên cứu của Okechuku (1994) về “tầm quan trọng của nguồn gốc xuất xứ quốc gia — sản phâm: Một phân tích kết hợp của Hoa Kỳ, Canada, Đức và Hà Lan”, nghiên cứu tầm quan trọng của tác động nguồn gốc xuất xứ quốc gia đến thái độ của người dân Mỹ, Đức, Canada và Hà Lan đối với các sản phẩm mang nhãn hiệu sản xuất trong nước và nước ngoài.
Nghiên cứu này cũng trình bày những ảnh hưởng của nguồn gốc xuất xứ quốc gia đến việc đánh giá sản phẩm và ý định mua của người tiêu dùng. Nghiên cứu của Parameswaran (1994) [22] Các khía cạnh của hình ảnh nguồn gốc xuất xứ quốc gia “Facets of country of origin image: an empirical assessment” nghiên cứu về ba khía cạnh của hình ảnh nguồn gốc xuất xứ quốc gia: thuộc tính chung của quốc gia, thuộc tính chung của sản phẩm và thuộc tính sản phẩm xe ô tô. Nghiên cứu thực hiện với 2 san pham ô tô cụ thể của 2 quốc gia là: Volkswagen Jetta (Đức) và Huyndai Steelar (Hàn Quốc). Trong nghiên cứu, hình ảnh xuất xứ quốc gia được xem là một biến được sử dụng để đạt được lợi thế cạnh tranh trong thị trường quốc tế.
Nghiên cứu của Parameswanra dựa trên tiền đề nghiên cứu về tác động của hình ảnh xuất xứ quốc gia đến ý định mua của người tiêu dùng bằng nhiều cách khác nhau của Han (1990); Papadopoulos, Heslop, Beracs (1990); Wang,Lamb (1983); Yaprak, Parameswaran (1986). Parameswaran x4y dựng mô hình gồm 3 khái niệm: Thuộc tính chung của xuất xứ quốc gia, thuộc tính chung của xuất xứ sản phẩm, thuộc tính chung của sản phẩm cụ thê. Đối với sản phâm ô tô, Parameswaran nghiên cứu cho ô tô Đức và ô tô Hàn Quốc. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Hình ảnh xuất xứ quốc gia có liên quan đến nhận thức sản phẩm của nước xuất xứ cụ thể.
Ngoài ra, ý định mua cũng bị ảnh hưởng bởi nhận thức của các sản phẩm cụ thể được đánh giá. Thuộc tính sản phẩm ô tô Đức có tác động mạnh hơn sơ với ô tô Hàn Quốc. Lý do có thé là người trả lời là quen thuộc hơn với người Đức, sản phẩm của Đức, và các nhãn hiệu Đức. Volkswagen và Krups đã có mặt tại thị trường Mỹ trong một thời gian dài hơn nhiều thời gian hơn so với Hyundai và Goldstar 1.13 13-39 3i-40 Hình 2 Mô hình nghiên cứu của Parameswaran (1994) [22] Nghiên cứu của Haubl (1996) [15] mô tả tác động của xuất xứ quốc gia đến đánh giá chung về san pham ôtô mới của Mercedes Benz.
Mô hình 10 nghiên cứu như hình 1. Điều đặc biệt ở nghiên cứu này là khảo sát tác động xuất xứ đến thái độ và hành vi mua đối với sản pham cu thé, ở đây là dòng xe Mercedes Vision A. Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu phản ứng khách hàng đối với dòng xe này trước khi thâm nhập thị trường Đức, mô hình xây dựng căn bản dựa trên thuyết của Bagozzi (1989). Hình 3: Mô hình nghiên cứu của Gerald Haubl (1996) [15J Nghiên cứu của Han (1989) [13] và Knight & Calantone (1999) [18] kiểm chứng thực tiễn đề xuất của Johhanson (1986) cho rằng người tiêu dùng có thể xem hình ảnh nguồn gốc xuất xứ quốc gia như là một đặc tính đặc biệt của sản phẩm và đặc tính này có thể ảnh hưởng đến người tiêu dùng thông qua cảm xúc hoặc thông qua ý định hành vi.
Mô hình Halo xảy ra khi người tiêu dùng không quen thuộc với các sản phâm nước ngoài hoặc kiến thức của sản phẩm thấp. Mô hình Halo dựa trên lí luận hình ảnh nguồn gốc xuất xứ quốc gia cho người tiêu dùng dự đoán chất 11 lượng của sản phẩm mang thương hiệu mới lạ của nước ngoài [10]. Điều này, tương tự như vai trò của giá, giúp người tiêu dùng dự đoán chất lượng sản phẩm khi thiếu các thông tin cần thiết khác. Mô hình này giải thích khi người tiêu dùng có ít kiến thức về sản phẩm, hình ảnh nguồn gốc xuất xứ quốc gia ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin về đặc tính sản phẩm của người tiêu dùng và sau đó niềm tin này ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của người tiêu dùng đối với sản phâm.
Mô hình này có quan hệ cấu trúc: COI — beliefs — Attitudes (Hình ảnh nguồn gốc xuat xt quéc gia > Niém tin > Thai độ) Hình ảnh quốc gia |_Ï! (Country Image) BLF 1 BLF2 ATTI ATT2 Hình 4: Mô hình Halo của Han (1989) [13] PPIM : Thang đo hình ảnh về sản phẩm và con người. BLE : Thang đo niềm tin. ATT : Thang đo thái độ. Mô hình yếu tố tóm tắt của Han (1989) cho rằng hình ảnh nguồn gốc xuất xứ quốc gia có thé tóm tắt niềm tin về các thuộc tính của sản phẩm và ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của người tiêu dùng trong trường hợp người tiêu đùng có nhiều kiến thức về sản phẩm [ 13].
Mô hình yếu tố tóm tắt có quan hệ cấu trúc: (Niềm tin —> Hình ảnh nguồn gốc xuất xứ quốc gia —> Thái độ) 12 Mô hình này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Jacoby (1971), đó là tên nhãn hiệu tác động như là yếu tố tóm tắt do người tiêu dùng tông hợp lại các thông tin họ đã biết. Quan điểm “yếu tố tóm tắt” cho thấy trí nhớ của con người bị hạn chế trong thời gian ngắn, người tiêu dùng có xu hướng tổng hợp các thông tin sản phẩm đề để nhớ và chuyền thành trí nhớ dài hạn. Điều này có nghĩa người tiêu dùng đã quen với sản phẩm sẽ trừu tượng hoá các thông tin vào hình ảnh nguồn gốc xuất xứ quốc gia. Sau một thời gian, khi người tiêu dùng gặp sản phâm tương tự được xuất xứ từ cùng một quốc gia thì họ có thê dự đoán chất lượng sản phẩm bằng cách đánh giá hình ảnh nguồn gốc xuất xứ quốc gia đã được trừu tượng hoá trong trí nhớ của người tiêu dùng một cách đơn giản.
Niềm tin Hình ảnh quốc gia (Beliefs) (Country Image) BLF2 *? Wi h2 À3 PPIMI| |PPIM2| |PPIM3| |PPIM4| |ATTI| |ATT2 BLF 1 Yi Hình 5: Mô hình yếu tố tóm tắt của Han (1989) [13j Nghiên cứu của Knight & Calantone (1999) [1§] dựa trên mô hình linh hoạt do chính ông này đề xuất. Knight và cộng sự thực hiện một nghiên cứu tại hai quốc gia là Mỹ và Nhật Bản, nhằm phát triên mô hình và kiểm nghiệm thực tế một mô hình tổng hợp, mô tả quá trình nhận thức yếu tố ấn tượng xuất xứ trong nhiều tình huống. Mục đích nghiên cứu của Knight & Calantone (1999) là nhờ việc cải tiến hai mô hình của Han (1989) đề xuất một mô hình có tính chất tổng quát và linh hoạt. Mô hình linh hoạt (Flexible model) của Knight & Calantone (1999) (hình 1.2) phản ánh một ý tưởng mới là thái độ 13 đối với sản phẩm ngoại quốc do kết quả quá trình tác động đồng thời của ấn tượng xuất xứ và niềm tin sản phẩm.
Knight & Calantone (1999) đã thực hiện một nghiên cứu tại Mỹ và Nhật Bản nhằm phát triển mô hình và kiêm nghiệm thực tế một mô hình tông hợp mô tả quá trình nhận thức yếu tố nguồn gốc xuất xứ quốc gia trong nhiều tình huống khác nhau, kể cả trong điều kiện văn hoá của người tiêu dùng khác nhau. Mục đích của nghiên cứu Knight & Calantone (1999) là nhằm cải tiến hai mô hình của Han (1989) và đề xuất một mô hình có tính chất tông quát và linh hoạt. Hình ó6: Mô hình linh hoaqt cia Knight & Calantone (1999) [18] Kết quả kiểm nghiệm thực tế của Knight & Calantone (1999) [18] da khăng định được các điều đã đề cập ở trên và mô hình có khả năng giải thích cao về quá trình hình thành thái độ của người tiêu dùng. Kết quả còn cho thấy mô hình linh hoạt mô tả chính xác hơn sự ảnh hưởng của nguồn gốc xuất xứ quốc gia so với hai mô hình của Han (1989) trong nhiều tình huống khác nhau.