Tổng quan nghiên cứu

Huyện Lang Chánh là một huyện miền núi nghèo nằm ở phía Tây tỉnh Thanh Hóa với diện tích tự nhiên đạt 585,92 km² và quy mô dân số năm 2019 là 50.120 người. Đây là nơi hội tụ không gian văn hóa đặc sắc với sự giao thoa lâu đời giữa các cộng đồng dân tộc, trong đó người Thái chiếm 53%, người Mường chiếm 33% và người Kinh chiếm 14%. Hệ thống di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương vô cùng đa dạng, nổi bật với 4 lễ hội tiêu biểu đang được quản lý và tổ chức thường niên: Lễ hội Chùa Mèo, Lễ hội Chá Mùn, Lễ hội làng xã Giao Thiện và Lễ hội đền Lê Phúc Hoạch.

Tuy nhiên, trước tác động của cơ chế thị trường và tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, công tác quản lý lễ hội tại Lang Chánh đang bộc lộ nhiều bất cập. Các hiện tượng biến tướng, thương mại hóa, lấn chiếm khuôn viên di tích và nguy cơ mai một bản sắc truyền thống diễn ra phức tạp trong bối cảnh tỷ lệ hộ nghèo của huyện còn ở mức 27% và thu nhập bình quân đầu người năm 2020 chỉ đạt 20 triệu đồng/năm.

Đề tài tập trung phân tích toàn diện thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với 4 lễ hội tiêu biểu trên địa bàn huyện Lang Chánh trong giai đoạn 5 năm từ năm 2016 đến năm 2020. Mục tiêu trọng tâm là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát thực tế bộ máy quản lý, nguồn lực tài chính, cơ chế phân cấp và công tác thanh tra kiểm tra. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng thực tiễn cao nhằm hoàn thiện năng lực quản lý cho 100% cán bộ văn hóa cơ sở, bảo tồn các giá trị nguyên bản của lễ hội và thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa bền vững đến năm 2025 và tầm nhìn 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp của hai lý thuyết nền tảng: Lý thuyết Quản lý nhà nước về di sản văn hóa và Lý thuyết Cấu trúc lễ hội dân gian cổ truyền. Khung lý thuyết kế thừa các quan điểm học thuật của các nhà nghiên cứu đầu ngành về vai trò định hướng của nhà nước trong việc bảo tồn không gian thiêng và giá trị văn hóa cộng đồng.

Nghiên cứu vận dụng hệ thống khái niệm chuẩn mực theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Nghị định số 110/2018/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý và tổ chức lễ hội. Cấu trúc lễ hội được phân tích đa chiều qua 3 khái niệm cốt lõi:

  • Di sản văn hóa phi vật thể: Sản phẩm tinh thần mang tính lịch sử, ký ức và diễn xướng dân gian.
  • Cấu trúc Lễ - Hội: Phần Lễ thể hiện tính linh thiêng, nghi thức tín ngưỡng; phần Hội bao gồm các trò chơi dân gian như ném còn, bắn nỏ, khua luống, hát Khặp Thái và hát Xường Mường.
  • Quản lý nhà nước về lễ hội: Quá trình vận hành thể chế, phân cấp thẩm quyền từ cấp tỉnh đến cấp xã, kiểm soát nguồn lực tài chính và bảo đảm an ninh trật tự theo Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL quy định 4 loại hình lễ hội cơ bản.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp liên ngành kết hợp định tính và định lượng nhằm bảo đảm tính khách quan, khoa học:

  • Cỡ mẫu khảo sát: Tổng cộng 150 mẫu phiếu khảo sát ý kiến, bao gồm 30 cán bộ làm công tác quản lý văn hóa từ cấp huyện đến cấp xã/thôn bản và 120 người dân địa phương cùng du khách thập phương trực tiếp tham gia 4 lễ hội.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 4 không gian lễ hội trọng điểm gồm thị trấn Lang Chánh, xã Yên Thắng, xã Giao Thiện và xã Đồng Lương để phản ánh chính xác cấu trúc xã hội học theo độ tuổi, giới tính và thành phần dân tộc.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua điền dã thực địa, quan sát tham dự và phỏng vấn sâu 15 nghệ nhân, thầy Then, già làng. Dữ liệu thứ cấp trích xuất từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2016-2020 của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Lang Chánh, các văn bản quy phạm pháp luật và tư liệu Dư địa chí địa phương.
  • Phương pháp phân tích: Lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp, so sánh và phân tích chính sách nhằm lượng hóa các chỉ tiêu về ngân sách, số lượng lớp tập huấn và mức độ vi phạm, từ đó làm rõ nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế trong quản lý.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực tế tại 4 lễ hội trên địa bàn huyện Lang Chánh giai đoạn 2016-2020 mang lại 4 phát hiện quan trọng:

  1. Công tác thể chế hóa và bảo tồn nghi lễ truyền thống đạt kết quả tích cực: 100% các lễ hội đều thành lập Ban Tổ chức theo đúng quy định tại Nghị định số 110/2018/NĐ-CP. Các nghi lễ cổ truyền như Lễ cúng Then trong Lễ hội Chá Mùn của người Thái đen hay Lễ dâng hương tri ân tiền nhân tại Đền Lê Phúc Hoạch được phục dựng nguyên bản, thu hút sự tham gia của hơn 80% cư dân bản địa.

  2. Nguồn nhân lực văn hóa cơ sở còn thiếu hụt trình độ chuyên môn: Thống kê cho thấy tỷ lệ lao động qua đào tạo từ sơ cấp trở lên của toàn huyện chỉ đạt 14%. Tại 10 xã và 1 thị trấn, có tới 65% cán bộ phụ trách công tác văn hóa - xã hội làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, chưa từng được đào tạo chuyên sâu về chuyên ngành quản lý văn hóa hay di sản.

  3. Cơ cấu nguồn lực tài chính có sự chuyển biến nhưng chưa bền vững: Kinh phí nhà nước cấp hàng năm cho quản lý di sản và lễ hội giai đoạn 2016-2020 chỉ đáp ứng khoảng 25% nhu cầu thực tế. Nguồn lực xã hội hóa đã đóng góp trung bình từ 35% đến 45% tổng kinh phí tổ chức, tuy nhiên việc quản lý tiền công đức và hòm công đức tại 2 di tích lớn còn thiếu quy chế công khai minh bạch.

  4. Hiện tượng thương mại hóa và vi phạm nếp sống văn minh còn tồn tại: Hoạt động thanh tra đã xử lý khoảng 12 trường hợp bán hàng rong, đổi tiền lẻ chênh lệch và lấn chiếm khuôn viên bảo vệ cấp I của di tích Chùa Mèo trong các mùa lễ hội đầu năm.

Thảo luận kết quả

Thực trạng quản lý lễ hội tại Lang Chánh bắt nguồn từ sự mất cân đối giữa tốc độ phát triển nhu cầu hưởng thụ tâm linh và năng lực điều tiết của chính quyền cấp cơ sở. Thu nhập bình quân 20 triệu đồng/người/năm phản ánh nền kinh tế nông nghiệp chiếm 67% cơ cấu, khiến việc huy động nguồn lực bảo quản di tích phụ thuộc lớn vào sự tự nguyện của người dân.

Dữ liệu khảo sát được tổng hợp trực quan thông qua bảng thống kê ngân sách cấp giai đoạn 2016-2020 và biểu đồ cơ cấu nguồn thu xã hội hóa (trong đó đóng góp từ nhân dân chiếm 45%, tài trợ doanh nghiệp 30%, ngân sách hỗ trợ 25%). Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu quản lý lễ hội vùng đồng bằng Bắc Bộ, Lang Chánh bộc lộ tính đặc thù rõ nét của vùng cao biên giới: tính cố kết cộng đồng người Thái - Mường rất cao, vai trò của già làng và trưởng bản trong phần Lễ mang tính quyết định, nhưng khâu tổ chức phần Hội lại thiếu hụt các sản phẩm du lịch sinh thái bổ trợ để giữ chân du khách. Việc thiếu cơ chế thanh tra độc lập khiến việc giám sát thu chi tài chính trở thành nút thắt lớn nhất cần giải quyết.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá với lộ trình triển khai từ năm 2021 đến năm 2030:

  1. Chuẩn hóa và bồi dưỡng năng lực đội ngũ quản lý văn hóa: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện chủ trì phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa tổ chức ít nhất 2 khóa tập huấn chuyên môn mỗi năm. Mục tiêu đến năm 2025, 100% cán bộ văn hóa xã, thị trấn và thành viên Ban Tổ chức lễ hội được cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý di sản và kỹ năng điều hành sự kiện.

  2. Hoàn thiện cơ chế tự quản cộng đồng gắn với phân cấp trách nhiệm: Ủy ban nhân dân huyện Lang Chánh ban hành quy chế phân cấp quản lý cụ thể, chuyển giao 80% quyền chủ động tổ chức phần hội cho các tổ chức tự quản thôn bản, già làng và người có uy tín. Thiết lập quy chế giám sát minh bạch, yêu cầu 100% điểm di tích lắp đặt hòm công đức cố định có niêm phong và ghi chép sổ sách kế toán định kỳ trước ngày 31 tháng 12 hàng năm.

  3. Đẩy mạnh xã hội hóa và liên kết phát triển du lịch văn hóa: Ủy ban nhân dân các xã Giao Thiện, Yên Thắng và Đồng Lương xây dựng đề án xã hội hóa nguồn kinh phí, phấn đấu nâng tỷ lệ tài trợ tư nhân lên 50-60% tổng chi phí tổ chức vào năm 2026. Kết nối 4 lễ hội trọng điểm với các tour du lịch danh lam thắng cảnh như Thác Ma Hao (công nhận năm 2019) và Thác Hón Lối (công nhận năm 2017) nhằm tăng lượng khách lưu trú thêm 25% mỗi năm.

  4. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và siết chặt kỷ cương: Đội kiểm tra liên ngành huyện định kỳ thực hiện tối thiểu 3 đợt kiểm tra chuyên đề trước, trong và sau mỗi mùa lễ hội. Xử lý triệt để 100% các vi phạm về kinh doanh dịch vụ đổi tiền lẻ, cờ bạc trá hình và mê tín dị đoan theo đúng khung chế tài tại Nghị định số 158/2013/NĐ-CP.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa: Lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa, cán bộ Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Lang Chánh và 11 xã, thị trấn sử dụng tài liệu làm căn cứ khoa học để hoàn thiện đề án bảo tồn lễ hội truyền thống gắn với phát triển du lịch đến năm 2030.

  2. Nhà nghiên cứu và sinh viên chuyên ngành Quản lý văn hóa: Các học viên cao học, giảng viên thuộc khối ngành Văn hóa học, Quản lý văn hóa và Di sản học có thể sử dụng hệ thống số liệu điền dã và khung lý thuyết chuẩn hóa làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về văn hóa tộc người thiểu số.

  3. Ban Quản lý di tích và Ban Tổ chức lễ hội cơ sở: Các thành viên ban tổ chức tại Chùa Mèo, Đền Lê Phúc Hoạch và các thôn bản có thể ứng dụng trực tiếp quy trình tổ chức phần Lễ trang trọng và phương thức vận hành phần Hội an toàn, văn minh.

  4. Doanh nghiệp lữ hành và phát triển du lịch: Các công ty du lịch khai thác tư liệu lịch sử, không gian diễn xướng và hệ thống trò chơi dân gian để xây dựng các sản phẩm du lịch trải nghiệm văn hóa bản địa độc đáo cho hơn 50.000 lượt khách tham quan mỗi năm.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận văn tập trung nghiên cứu những lễ hội tiêu biểu nào tại huyện Lang Chánh? Luận văn khảo sát chi tiết 4 lễ hội lớn gồm: Lễ hội Chùa Mèo (thị trấn Lang Chánh, di tích cấp tỉnh năm 2005), Lễ hội Chá Mùn (xã Yên Thắng, văn hóa Thái đen), Lễ hội làng xã Giao Thiện (giao lưu Khặp Thái, Xường Mường) và Lễ hội đền Lê Phúc Hoạch (xã Đồng Lương, tưởng niệm công thần khởi nghĩa Lam Sơn).

  2. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa tại địa phương có hạn chế gì nổi bật? Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn của toàn huyện chỉ đạt 14%. Đa số cán bộ phụ trách văn hóa tại 11 xã và thị trấn đều làm việc kiêm nhiệm, thiếu kiến thức chuyên sâu về quản lý di sản phi vật thể và nghiệp vụ điều hành lễ hội theo quy chuẩn nhà nước.

  3. Nguồn lực tài chính tổ chức lễ hội tại Lang Chánh được phân bổ như thế nào? Ngân sách nhà nước cấp hàng năm chỉ chiếm khoảng 25% tổng chi phí tổ chức. Nguồn thu từ công tác xã hội hóa, đóng góp tự nguyện của người dân và du khách chiếm tỷ trọng chủ đạo từ 35% đến 45%, đòi hỏi phải có quy chế quản lý tiền công đức minh bạch, chặt chẽ hơn.

  4. Các văn bản pháp lý nền tảng nào được áp dụng trực tiếp trong nghiên cứu? Hệ thống văn bản trọng tâm bao gồm Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi năm 2009), Nghị định số 110/2018/NĐ-CP về quản lý và tổ chức lễ hội, Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Nghị định số 158/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính.

  5. Đâu là giải pháp căn cốt để kết hợp bảo tồn lễ hội với phát triển du lịch tại địa phương? Giải pháp then chốt là liên kết 4 không gian lễ hội với tuyến điểm du lịch sinh thái Thác Ma Hao và Thác Hón Lối, khôi phục các trò chơi dân gian truyền thống và chuyển giao quyền tự quản phần hội cho các cộng đồng dân tộc Thái, Mường trước năm 2025.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với di sản lễ hội dân gian tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi.
  • Phân tích bức tranh thực trạng quản lý 4 lễ hội tiêu biểu tại huyện Lang Chánh giai đoạn 2016-2020 với hệ thống số liệu điều tra thực địa 150 mẫu chuẩn xác.
  • Chỉ rõ những điểm nghẽn then chốt về nguồn nhân lực (14% qua đào tạo), cơ cấu tài chính hạn hẹp và nguy cơ thương mại hóa không gian di tích.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ về đào tạo nhân lực, tự quản cộng đồng, xã hội hóa nguồn vốn và siết chặt kiểm tra liên ngành với lộ trình cụ thể đến năm 2025 và tầm nhìn 2030.
  • Nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý văn hóa và các đơn vị du lịch nhằm bảo tồn bền vững bản sắc văn hóa xứ Thanh.