chương I Luật Di sản Văn hóa Việt Nam: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao 12 gồm tiếng nói, chữ viết tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác[40] 1. Lễ hội và hoạt động lễ hội Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong một khoảng thời gian và không gian xác định, nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại, thu hít sự quan tâm của cộng đồng và được biểu hiện ra bên ngoài theo nhiều hình thức khác nhau. Đồng thời là dịp để biểu hiện các ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên - thần thánh và con người trong xã hội. Trong cuốn Lễ hội cổ truyền, tác giả Lê Trung Vũ (1992), với quan điểm về lễ hội như sau: Lễ hội là việc dân làng mở hội cốt nhằm mục đích hồi tưởng công lao của thần, qua đó thêm một lần tô đậm sự cộng cảm giữa những người cùng làng, tức là những người cùng hưởng ân đức của một vị thần.
Mở hội cũng là thêm một lần, trong không khí thiêng liêng, ôn lại điều tâm niệm chung của cộng đồng về phẩm chất cần trau dồi như sự gắn bó với những người cùng làng. Hội làng được mở cũng là lúc dân lành hy vọng rằng ước nguyện của toàn thể cộng đồng về một đời sống chung no đủ, giàu có, bình an, được trở thành hiện thực. Họ gửi gắm vào lời cầu khấn thần Thành hoàng - vị thần bảo hộ của làng. Hội làng là nơi biểu hiện sự tập trung tư tưởng và tâm lý của dân làng bao gồm lòng sùng kính những bậc có công với làng nước, ý thức cộng đồng, nguyện vọng, ước mơ về một cuộc sống thái bình thịnh vượng [62].
13 Tiến sĩ Nguyễn Quang Lê cho rằng: Bất kỳ một lễ hội nào cũng bao gồm hai hệ thống đan quyện và giao thoa với nhau: Hệ thống lễ bao gồm các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian và tôn giáo cùng với các lễ vật được sử dụng làm đồ lễ mang tính linh thiêng, được chuẩn bị rất chu đáo và nghiêm túc. Thông qua các nghi lễ này con người được giao cảm với thế giới siêu nhiên là các thần thánh (nhiên thần và nhân thần), do chính họ tưởng tượng ra và mong các thần thánh bảo trợ và có tác động tốt đẹp đến tương lai cuộc sống tốt đẹp của mình. Hệ thống hội bao gồm các trò vui, trò diễn và các kiểu diễn xướng dân gian, cụ thể là các trò vui chơi giải trí, các đám rước và ca múa dân gian. Chúng đều mang tính vui nhộn, hài hước, song đôi khi chưa thể tách ra khỏi việc thờ cúng.
Lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trưng của cộng đồng xoay quanh một trục ý nghĩa nào đó, nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị nhất định [23]. Như vậy qua quá trình nghiên cứu trên tác giả xin đưa ra khái niệm riêng theo cách hiểu về lễ hội như sau: Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính cộng đồng cao của thành phần các dân tộc, diễn ra trong những chu kỳ không gian, thời gian nhất định lấy đó làm những nghi thức để tỏ rõ sự tôn kính của con người đối với thần linh, thể hiện những ước vọng, mong muốn chính đáng mà con người chưa có khả năng thực hiện được. 14 - Phân loại lễ hội Tác giả Đinh Gia Khánh, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, đã dành nhiều trí tuệ và tâm huyết nghiên cứu về lễ hội, đã đưa ra quan điểm phân loại lễ hội dân gian như sau: Có nhiều cách phân loại hội lễ. Cách phân loại đơn giản nhất là chia hội lễ thành hội lễ vốn không có nguồn gốc tôn giáo và hội lễ có nguồn gốc tôn giáo.
Hội lễ mà nguồn gốc vốn không phải là tôn giáo vốn có từ rất lâu. Thí dụ như: Hội lễ nguyên thủy gắn với nghi thức phồn thực, với sản xuất nông nghiệp. Hội lễ tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia thành giai cấp và tôn giáo đã ra đời (Balamôn giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Do Thái giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo. Dựa vào đặc điểm không gian tổ chức lễ hội, tác giả Nguyễn Quang Lê phân loại lễ hội dân gian cổ truyền người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ thành 3 loại: Hội đền, hội đình, hội chùa [30].
Ở góc độ quản lý nhà nước trong lĩnh vực lễ hội, ngày 22 tháng 12 năm 2015, Bộ VHTT&DL ban hành Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL quy định về tổ chức lễ hội. Tại điều 3: Các loại hình lễ hội [6], đã ghi rõ: 1. Lễ hội dân gian là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh người có công với nước với cộng đồng; thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội. Lễ hội lịch sử, cách mạng là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh những danh nhân, sự kiện lịch sử, cách mạng.
Lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch là lễ hội được tổ chức để quảng bá về văn hóa thể thao, du lịch bao gồm: festival, liên hoan văn hóa, 15 thể thao, du lịch; tuần văn hóa, thể thao, du lịch; tuần văn hóa - du lịch; tháng văn hóa - du lịch; năm văn hóa - du lịch và các lễ hội văn hóa, thể thao và du lịch khác. Lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài tổ chức tại Việt Nam là lễ hội do tổ chức của Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam tổ chức nhằm giới thiệu giá trị văn hóa tốt đẹp của nước ngoài với công chúng Việt Nam [6]. - Hoạt động lễ hội Hoạt động lễ hội được cấu tạo từ hai phần riêng rẽ là phần lễ và phần hội: Lễ: là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh tiến hành các nghi lễ trọng thể, trang nghiêm, tôn kính như cúng bái, tế lễ, rước… theo những nghi thức nhất định, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Lễ mang màu sắc tâm linh.
Hội: là tập hợp các trò diễn, các cuộc vui chơi, giải trí tại một thời điểm nhất định, thường trong khuôn viên các công trình tôn giáo, hay ở sát chúng, có đông người tham gia, là đời sống văn hóa hàng ngày và một phần đời sống cá nhân và cả cộng đồng, nhân kỉ niệm một sự kiện quan trọng đối với một cộng đồng xã hội. Hội mang màu sắc dân gian, vừa thể hiện tính khéo léo vừa nêu cao tinh thần thượng võ, tính đoàn kết của cộng đồng. Cho đến nay, khái niệm lễ hội vẫn còn nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau trong giới nghiên cứu. Thực tế đã chứng minh một trong những quan điểm lý thuyết nhận được sự đồng thuận cao về hai thành tố cấu trúc nên lễ hội (phần lễ tức là nghi lễ, là mặt thứ nhất: tinh thần, tôn giáo tín ngưỡng linh thiêng; phần hội tức là hội hè, là phần thứ hai: vật chất, văn hóa nghệ thuật đời thường).
Có quan niệm chia tách lễ hội thành hai thành tố khác nhau và độc lập trong cấu trúc lễ 16 hội dựa trên thực tế có những sinh hoạt dân gian, văn hóa dân gian có lễ mà không có hội hoặc ngược lại. Có quan niệm ngược lại, nhấn mạnh “tính nguyên hợp” của lễ hội, tức là quan hệ nghệ thuật ấy (lễ hội) người ta nhận thức hiện thực như một tổng thể chưa bị chia cắt. Hoạt động lễ hội là buổi diễn ra các hoạt động văn hóa, các trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc với các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử và được gìn giữ, phát huy theo năm tháng. Hoạt động lễ hội mang tính chất cộng đồng sâu sắc, là nơi bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tinh thần của cộng đồng.
Những hoạt động này thường diễn ra trong một khoảng thời gian và không gian xác định và thể hiện một phần đời sống văn hóa của cộng đồng nên có đông đảo người dân tham gia. Người dân cũng có nhiều tên gọi về những sự kiện này như hội, đám xứ, tiệc làng, hội làng, làng mở hội, hội hè đình đám,… cách gọi này là theo thông lệ và không gian tổ chức bởi đa phần các hoạt động này được tổ chức ở làng, do dân làng tiến hành và để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tâm linh của cộng đồng dân làng. Hoạt động lễ hội “bao gồm các trò chơi, giải trí hết sức phong phú. Xét về nguồn gốc, phần lớn các trò chơi này đều xuất phát từ ước vọng thiêng liêng của con người nông nghiệp.
Đối với các lễ hội, phần hội bao giờ cũng gắn bó, liên quan mật thiết với phần lễ” [52, tr. 89] Những hoạt động này tạo nên tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau và dịp này cũng diễn ra nhiều hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa. Như vậy có thể hiểu: Hoạt động lễ hội là sự kiện văn hóa mang tính cộng đồng được nhiều người quan tâm được tổ chức ngay tại không gian tổ chức nghi thức lễ, các hoạt động mua bán trao đổi, các trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc với các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử và được gìn giữ, phát huy theo năm tháng. Quản lý, quản lý lễ hội Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người.
Theo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt, trông nom công việc. Theo nghĩa thông thường, phổ biến nhất: “Quản lý là hoạt động tác động một các có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng để điều chỉnh các quá trình phát triển xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển đối tượng theo những mục tiêu đề ra” [21].