CHƯƠNG 1: CƠ SỞ CUA LY LUAN VE HIEU QUA QUAN LY THI TRUONG VON 1.1 Thị trường vốn 1.1 Khái niệm Thị trường vốn Thị trường vốn là một trong hai bộ phận quan trọng của thị trường tài chính và ngay từ thời điểm khi một vài quốc gia trên thế giới bắt đầu thay đổi suy nghĩ về quan điểm nguồn vốn trên thị trường kinh tế nói chung thì cũng là lúc đặt những hạt mầm đầu tiên cho thị trường vốn. Minh chứng rõ nhất là vào thế kỷ 12 tại Pháp, khi đất nước thay đổi và xuất hiện những người được gọi là “trao đổi tiền” là những người thay mặt ngân hàng thực hiện nhiệm vụ quản lý và điều chỉnh các khoản nợ của cộng động nông nghiệp. Từ việc trao đổi các khoản nợ với nhau, sau một thời gian hoạt động người dân coi họ là những nhà môi giới đầu tiên, đây chính là thời kỳ sơ khai của thị trường vốn lúc bấy giờ. Nhiều người cho rằng đến cuối thế kỷ 13 tại Bruges, các thương nhân mới bắt đầu tụ tập buôn bán, đàm phán với nhau tại tòa nhà của một người đản ông có tên Van der Beurze.
Tòa nhà của gia đình Van der Beurze tai Antwerp là nơi diễn ra những buổi họp chợ của các thương nhân, tại thời điểm lúc bấy giờ nhà Van der Beurze cũng giống như hầu hết các thương gia khác và coi Antwerp là địa điểm chính để trao đổi hàng hóa. Ý tưởng này đã nhanh chóng được phát triển và lan rộng khắp Flanders sang cả những nước xung quanh và phong trào *Beurzen” sau đó đã xuất hiện tai Ghent va Rotterdam. Vào giữa thế kỷ 13, các chủ ngân hàng người Venice đã bắt đầu giao dịch cỗ phiếu chính phủ. Năm 1351, nhà nước Venice ban hành lệnh cắm lan truyền các tin đồn nhằm hạ giá quỹ chính phủ.
Các chủ ngân hàng tại Pisa, Verona, Genoa và Florence cũng bắt đầu trao đổi cỗ phiếu của chính phủ trong suốt thế kỷ 14. Điều này có thể thực hiện được vì đây là những thành phó độc lập, quyền cai trị không thuộc về các công tước mà thuộc về Hội đồng gồm những công dân có sức ảnh hưởng. Các công ty Ý cũng là những tổ chức ngoài nhà nước đầu tiên phát hành cổ. Các công ty ở Anh và ở những quốc gia vùng trũng bắt đầu phát hành cô.
phiếu vào thế kỷ 16. “Theo quan điểm thứ nhất nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thị trường vốn là một nơi giao dịch các tài sản tài chính có kỳ hạn dài hoặc vô thời hạn (Phương Trương, 2015, Tổng quan thị trường vốn). Các công cụ của thị trường vốn đáo hạn trong khoảng thời gian trên một năm. Thị trường vốn là một sự sắp xếp theo thể chế đi vay và cho vay tiền trong một khoảng thời gian dài, bao gồm các tổ chức tài chính.
Các tô chức này. đóng vai trò là bên cho vay còn các đơn vị, tổ chức, tập đoàn là các bên đi vay trên thị trường vốn. ‘Theo quan diém thứ hai thì thị trường vốn là một thị trường tài chính, trong đó nợ đài hạn (nợ hơn một năm) hoặc chứng khoán hoàn vốn được mua bán trao đôi. Thị trường vốn chính là chuyển sự giàu có của những người có khoản tiết kiệm cho những người có nhu cầu sử dụng và đem lại hiệu quả lâu dài, chẳng hạn như các công ty, chính phủ thực hiện đầu tư dài hạn (Bách khoa toàn thư, Thị trường vốn).
Quan điểm thứ ba cho rằng thị trường vốn chính là thị trường chứng khoán, chỉ là cách diễn đạt tên gọi khác nhau. Xét về cách thức, nội dung thực hiện thì thị trường vốn chính là biêu hiện mối quan hệ tương quan bên trong của quá trình mua bán chứng khoán. Do đó, thị trường vốn và thị trường chứng khoán không thể phân biệt, tách rời nhau; thay vào đó là sự thống nhất và cùng phản ảnh trạng thái của nhiều góc cạnh của thị trường tài chính (PGS.TS Phạm Văn Hùng, Giáo trình thị trường vốn, trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân xuất bản năm 2005). Do vậy, theo các quan điểm được phân tích ở trên thì với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, mở rộng sản kinh doanh thì trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn này, thị trường vốn được hiểu chính là thị trường chứng khoán vì cùng chung đặc điểm đều là thị trường cung cấp vốn đầu tư trung, dài hạn cho các chủ thể trong nền kinh tế từ chính quyên trung ương, chính quyền địa phương cho đến các doanh nghiệp.
Đồng thời, dé thé hiện quan điểm cùng chung đặc điểm nhưng chỉ khác tên gọi thì tại thị trường vốn công cụ được sử dụng chủ yếu giống với thị vốn là: cỗ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phái sinh. Đối tượng hàng hóa của thị trường vốn “Trên cơ cấu của thị trường vốn, hàng hóa bao gồm nhiều loại, nhưng xét về yếu tố lịch sử và các công cụ có tần suất sử dụng nhiều thì có thể coi hàng hóa trong thị trường vốn bao gồm cô phiếu, trái phiếu, chứng khoán phái sinh. Cổ phiếu chính là là giấy chứng nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với số lượng cô phần nhất định của công ty thông qua việc góp vốn. Hiéu theo cl ngược lại thì cỗ phiếu chính là chứng chỉ do công ty cổ In phát hành hoặc bút toán ghỉ số xác nhận quyền sở hữu một hoặc nhiều cổ phần của chính công ty đó.
Từ đó người nắm giữ cổ phiếu với số lượng nhất định sẽ trở thành cô đông và đồng thời là chủ sở hữu và có quyền biểu quyết đối với các chính sách, định hướng phát triển của chính công ty đã phát hành cô phiếu đó. Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của đơn vị phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu với một khoản tiền cụ thể được xác định theo mệnh giá được in trên trái phiếu, trong một khoảng thời gian xác định kèm theo đó là khoản lợi tức đã được bên phát hành cam kết từ trước đó. Bên phát hành trái phiếu có thể là doanh nghiệp (trái phiếu doanh nghiệp), hoặc có thể là do tổ chức chính quyền như Kho bạc Nhà nước (trái phiếu kho bạc), hoặc do chính quyền là Chính phủ (gọi là công trái hoặc trái phiếu Chính phủ). Theo Luật Chứng khoán năm 2019 thì chứng khoán phái sinh là công cụ tài chính dưới dạng hợp đồng, bao gồm hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, trong đó xác nhận quyền, nghĩa vụ của các bên đối với việc thanh toán tin, chuyển giao số lượng tài sản cơ sở nhất định theo mức giá đã được xác định trong khoảng thời gian hoặc vào ngày đã xác định trong tương lai.
Qua đó hàng hóa của thị trường vốn có những đặc điểm khác biệt so với các thị trường hàng hóa khác. Không giống với các loại hàng hóa khác trên thị trường, các nhà đầu tư khi tham gia giao dịch mua bán hàng hóa trên thị trường vốn không phải quan tâm đến hình thức, mẫu mã bên ngoài sản phẩm. Thay vì điều đó, các nhà đầu tư cần tập trung tìm hiểu, quan tâm đến các thông tin xoay xung quanh, khả năng sinh lời và tiém ấn những rủi ro gì. Thị trường vốn là thị trường hoạt động liên tục và với hình thức cung cấp tài chính trực ti cho các chủ thể có nhu cầu Đặc tính hoạt động liên tục được thể hiện rõ nét nhất ở hoạt động sau khi hàng hóa của thị trường vốn (bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán phái sinh) được phát hành trên thị trường sơ cấp thì các nhà đầu tư có thẻ mua đi, bán lại liên tục các hàng hóa đó trên thị trường thứ cấp.
Đồng thời, thị trường vốn đảm bảo cho những nhà đầu tư có thể bán các hàng hóa mà họ đang nắm giữ thành tiền mặt bắt cứ lúc nào theo nhu câu của họ. Trên thị trường vốn, nguồn vốn có thẻ chuyền từ bên cung (chủ thể có nguồn tài chính dư thừa được tiết kiệm và không sử dụng đến) sang cho bên cầu (chủ thể có nhu cầu sử dụng nguồn vốn) bằng một trong hai hình thức là trực tiếp hoặc gián tiếp. Đối với hình thức tài chính gián tiếp, đúng với tên gọi, vốn được luân chuyển thông qua bên trung gian tài chính là các ngân hàng thương mại, công ty tài chính. từ đó vốn của bên cung mới đến bên cầu.
Bên trung gian tài chính đóng vai trò là nơi tập trung nguồn vốn dư thừa từ những người cung và cam kết trả cho họ một lãi suất nhất định trong tương lai, sau đó sử dụng chính nguồn vốn đó cho những cá nhân, tổ chức có nhu cầu và thu từ bên cầu khoản tiền lãi cao hơn so với lãi suất mà bên trung. gian phải chỉ trả cho bên cung. Bên trung gian tai chính sẽ được hưởng một khoản chênh lệnh giữa nguồn thu của bên cầu và chỉ trả cho bên cung, từ đó tạo ra nguồn lực tài chính mạnh cho thị trường vốn. 12 Sơ đồ 1: Quy trình gián tiếp, trực tiếp nguồn vốn qua thị trường tài chính TÀI CHÍNH GIÁN TIẾP.
Bên trung gian: VON 1. Tổ chức tín dụng 2. Công ty, người môi giới chứng. Tô chức, cá nhân nước ngoài Vốn Bên cung: Bên c 1.
Hộ gia đình, cá 1. Hộ gia đình, cá nhân nhân 2.Các tổ chức chính trị xã hội chính trị 3. Tô chức, cá nhân 5. Tổ chức, cá nhân nước ngoài nước ngoài TÀI CHÍNH TRỰC TIẾP.
Khác với hình thức gián tiếp, kênh cung cấp nguồn vốn trực tiếp sẽ thực hiện theo nguyên tắc chuyển trực tiếp số vốn của bên cung cho bên cầu. Xuyên suốt quá trình này, nguồn tài chính sẽ không dừng lại ở bất kỳ tô chức hay bên trung gian nào. Thay vì đó, bên cầu sẽ phải trả trực tiếp chỉ phí sử dụng vốn cho bên cung, tuy nhiên, trong hình thức tài trợ trực tiếp này, nguồn vốn sẽ chuyển tới bên có nhu cầu theo hai cách thức là: tài trợ trực tiếp qua trung gian và tải trợ trực tiếp không qua trung gian. Loại hình tài trợ trực tiếp qua trung gian là loại hình thực hiện luân chuyên tài chính được sử dụng khá phổ biến, rộng rãi trên thị trường.
Với đặc tính là loại hình có bên trung gian đứng giữa nhưng chỉ thực hiện chức năng tô chức, thu xếp và tiến hành l3 các giao dịch tài chính thay cho các bên.