Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục ATGT cho học sinh THCS ở trung tâm GDTX. Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục ATGT cho học sinh THCS ở Trung tâm GDTX tỉnh Thái Bình. Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục ATGT cho học sinh THCS ở Trung tâm GDTX tỉnh Thái Bình. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ATGT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở TRUNG TÂM GDTX 1.
Tổng quan về nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Ngày nay, Nhật Bản được mệnh danh là quốc gia có hệ thống giao thông an toàn nhất trên thế giới và người dân có ý thức cao khi tham gia giao thông. Vào những năm 1960, Chính phủ Nhật Bản đã phải đưa ra khái niệm “Chiến tranh giao thông”, bởi con số thương vong vì TNGT tương đương với số thương vong trong chiến tranh của Nhật Bản ở nhiều thập kỷ trước. Một trong những giải pháp được Nhật Bản chú trọng đó là giáo dục ATGT cho trẻ em để xây dựng cho các em ý thức ngay từ nhỏ.
Nhờ vậy, tình trạng giao thông của Nhật Bản đã thay đổi theo hướng tích cực và trở thành một trong những quốc gia có hệ thống ATGT nhất trên thế giới. Công tác giáo dục ATGT luôn được chính quyền Nhật Bản đặt lên hàng đầu trong cuộc chiến kéo giảm TNGT, do đó, công tác giáo dục và duy trì thực thi pháp luật giao thông luôn được chính quyền các cấp coi như một giải pháp cơ bản để giảm thiểu TNGT. Để thực hiện được điều đó, chính quyền Nhật Bản xác định công tác giáo dục ATGT là nhiệm vụ của toàn xã hội, đòi hỏi người dân phải nghiêm túc tự giác thực hiện và liên tục duy trì. Hàng năm, Chính phủ Nhật Bản tiến hành tổ chức 2 chiến dịch tuyên truyền về ATGT trên quy mô cả nước.
Các chiến dịch này kéo dài 10 ngày nhằm nhắc nhở và động viên ý thức tham gia giao thông của người dân. Công tác giáo dục ATGT còn được Nhật Bản tập trung ngay từ bậc tiểu học, việc giáo dục kiến thức về giao thông cho người dân thực hiện từ khi còn bé cho đến khi già với mọi thành phần tham gia giao thông. Giáo dục trong trường học, gia đình, các tổ chức xã hội, thông qua đài phát thanh, truyền hình, báo chí với nội dung phù hợp với từng lứa tuổi. Công tác giáo dục giao thông tại Nhật Bản cũng được áp dụng song song với tình hình thực tế.
Chẳng hạn, tại thành phố Kyoto, nơi có mật độ sử dụng xe đạp 6 trong giới học sinh tiểu học tương đối cao, các em học sinh phải tham gia một khóa huấn luyện về ATGT mới được cấp chứng chỉ sử dụng xe đạp. Các hoạt động tuyên truyền về giao thông ở Nhật Bản thu được hiệu quả một phần nhờ gắn liền với thực tiễn. Chẳng hạn, để ngăn chặn nạn đỗ xe bừa bãi gây cản trở giao thông, trước hết, chính quyền chăm lo quy hoạch khu vực có thể đỗ xe rồi mới tổ chức tuyên truyền. Một xã hội văn minh cần phải có một nền giáo dục toàn diện, phải tuân thủ pháp luật nói chung hay luật giao thông đuờng bộ nói riêng.
Bài học giáo dục ATGT cho học sinh ở Nhật Bản và các nuớc phát triển trên thế giới giúp chúng ta thấy tầm quan trọng của việc giáo dục ATGT cho học sinh, để các em có được các hiểu biết cơ bản, phòng tránh tai nạn và có ý thức chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông là rất cần thiết. Ở trong nước Ở nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước nhằm đưa đất nước đến mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Chính vì vậy việc quản lý nhà nước bằng pháp luật là hết sức cần thiết. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ "Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng.
Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân". Đồng thời nghị quyết Đại hội X cũng đã nêu: "Tăng cường pháp chế, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật đồng thời coi trọng giáo dục đạo đức". Việc giáo dục pháp luật và đưa pháp luật vào đời sống nói chung, trong trường học nói riêng trong những năm gần đây đã được Đảng và nhà nước quan tâm, chú ý, song chưa thực hiện triệt để.
Việc giáo dục pháp luật ở nhà trường còn bị coi nhẹ (chỉ qua một vài đợt tuyên truyền, cổ động). Hơn nữa việc giáo dục cho học sinh mới chỉ dừng lại ở lý thuyết, chưa thực sự đi vào nếp nghĩ và việc làm. Từ đó, chất lượng giáo dục pháp luật chưa có hiệu quả và chưa có tác dụng nhiều trong giáo dục thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước. Từ những năm 90 của thế kỷ 20, việc giáo dục ATGT cho học sinh đã được triển khai trong các trường học.
Năm 1995, Bộ GD&ĐT đã ban hành chỉ thị về thực hiện Nghị định 36/CP của Chính phủ và Chỉ thị 317/TTg của Thủ tướng Chính phủ 7 về bảo đảm trật tự ATGT đường bộ và trật tự ATGT đô thị. Năm 2007, ban hành chỉ thị về tăng cường công tác giáo dục ATGT trong các cơ sở giáo dục và đào tạo… Đến nay, tài liệu giảng dạy ATGT đã được biên soạn và tổ chức giảng dạy cho các bậc học từ mầm non trở lên. Tuy nhiên vẫn chỉ dừng lại ở mức độ giảng dạy lý thuyết mà chưa chú trọng về thực hành nâng cao ý thức chấp hành luật GTĐB cũng như rèn luyện cách xử lý tình huống khi tham gia giao thông cho học sinh. Thực tế vẫn còn khá nhiều học sinh không chấp hành luật GTĐB, điều khiển xe máy khi chưa đủ tuổi, không đội mũ bảo hiểm, phóng nhanh, lạng lách, thậm chí tập trung đua xe trái phép gây tai nạn cho mình và cho người khác…Việc chấp hành tốt luật GTĐB là một trong những yếu tố quan trọng nhằm hạn chế tai nạn giao thông (TNGT).
Hiện nay các trường THCS nên triển khai thực hiện vận động cha mẹ học sinh phối hợp cùng nhà trường trong việc giáo dục ý thức tuân thủ luật GTĐB cho con em mình bằng cách tự giác không vi phạm luật Để các em học sinh có ý thức chấp hành luật pháp nói chung, luật GTĐB nói riêng, rất cần tổ chức cho học sinh đuợc tham gia hoạt động giáo dục ATGT thông qua hoạt động dạy thực hành luật GTĐB trên sa hình. Từ năm 2008 đến nay Trung tâm GDTX tỉnh Thái Bình đã và đang tổ chức cho học sinh đuợc tham gia hoạt động giáo dục ATGT thông qua hoạt động dạy thực hành luật GTĐB trên sa hình. Trong thực tế An toàn giao thông là hạnh phúc của mọi người và mọi nhà, là mục tiêu mà các quốc gia đều mong muốn đạt được. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi đất nước đang trên đà phát triển, mức sống của người dân đang được nâng lên, phương tiện tham gia giao thông ngày càng nhiều thì luật GTĐB đang bị vi phạm nghiêm trọng ở tất cả mọi nơi và ở tất cả các đối tượng, từ người già đến người trẻ, từ người lớn đến trẻ em, từ học sinh đến sinh viên.Đây là vấn đề nhức nhối trong xã hội ta.
Hiện này cũng chưa có công trình nghiên cứu nào thuộc lĩnh vực quản lý hoạt động giáo dục ATGT ở trung tâm GDTX. Một số khái niệm cơ bản của luận văn 1. Quản lý Có nhiều khái niệm về quản lý (hiểu theo ý nghĩa là một động từ) nghĩa là: tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định. 8 Tác giả Vũ Dũng khẳng định: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [8, 47].
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền khẳng định: " Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý ( khách thể ), nhằm đạt mục tiêu quản lý đề ra " [11, 2]. Ở mỗi góc độ tiếp cận, người ta có thể đưa ra một quan niệm quản lý khác nhau. Nhìn chung, các khái niệm quản lý bao gồm những dấu hiệu đặc trưng sau: Quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao động. Trong quản lý, luôn có chủ thể quản lý và khách thể quản lý (đối tượng quản lý) quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý.
Những tác động quản lý chính là những quyết định quản lý, là những nội dung mà chủ thể quản lý yêu cầu đối với khách thể quản lý. Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để xã hội tồn tại, vận hành và phát triển. Quản lý phải có cấu trúc và vận động trong một môi trường xác định.
Hoạt động quản lý bao giờ cũng gắn với hoạt động có ý thức của con người và toàn xã hội dưới tác động của hoàn cảnh nhằm định hướng sự vận động và phát triển của đối tượng cần quản lý theo một mục đích nhất định. Như vậy, quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống và nó có liên quan đến nhiều yếu tố: các yếu tố cấu trúc và các yếu tố khác (tổ chức, môi trường, quyền uy …). Quản lý là một hoạt động phổ biến không thể thiếu trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và có tác động liên quan đến mọi người. Như vậy có thể khẳng định rằng mọi quá trình hoạt động không thể thiếu được quản lý.
Theo tác giả Nguyễn Bá Dương: “Quản lý là việc thực hiện hoá các mục tiêu của tổ chức theo cách có hiệu quả và hiệu suất cao, thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực của tổ chức” (Richard Winter) [10, 58]. Qua định nghĩa của các tác giả ta thấy khái niệm quản lý gồm hai hệ liên kết nhau giữa chủ thể quản lý (có thể là cá nhân hay tổ chức) với đối tượng quản lý. Ai quản lý đó là chủ thể quản lý. Trả lời cho câu hỏi: Quản lý ai? Quản lý cái gì? Đó là khách thể quản lý (những con người cụ thể và sự hình thành các mối quan hệ giữa 9 những con người, giữa những nhóm người,…).