Tổng quan nghiên cứu

Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh là vùng đất giàu truyền thống lịch sử với 134 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 49 di tích và cụm di tích được xếp hạng cấp Quốc gia và cấp tỉnh. Nổi bật trong hệ thống di sản này là Quần thể di tích lịch sử khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý (gồm Đền Đô và Thọ Lăng Thiên Đức) tại phường Đình Bảng, được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích Quốc gia Đặc biệt vào năm 2014. Khuôn viên Đền Đô sở hữu tổng diện tích 31.250 m² với 21 hạng mục công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo, cùng 13 lăng mộ và tháp mộ vua quan nhà Lý cách đền khoảng 800 m.

Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng tại vùng đất cửa ngõ cách thủ đô Hà Nội 16 km, công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa đối với khu di tích đối mặt với nhiều thách thức: sự chồng chéo chức năng giữa các cấp quản lý, cơ chế tài chính công đức chưa đồng bộ, và áp lực bảo tồn nguyên vẹn các yếu tố kiến trúc gốc trước hàng vạn lượt khách tham quan mỗi kỳ lễ hội. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là khảo sát, đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý nhà nước và hoạt động của Ban Quản lý di tích Đền Đô từ năm 2012 đến năm 2017, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong giai đoạn 2016–2020.

Phạm vi nghiên cứu tập trung tại không gian phường Đình Bảng với diện tích tự nhiên 826,74 ha và quy mô dân số trên 17.000 người. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đóng góp cơ sở dữ liệu khoa học giúp tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao khoảng 25% đến 30% hiệu quả khai thác kinh tế du lịch di sản gắn liền với mục tiêu giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý luận quản trị công và quản lý nhà nước về di sản văn hóa, kết hợp mô hình bảo tồn thích ứng di sản trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các khung pháp lý nền tảng bao gồm Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Nghị định số 70/2012/NĐ-CP của Chính phủ về thẩm quyền và trình tự tu bổ di tích, cùng Quyết định số 242/2014/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh về quy chế quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

Bốn khái niệm cốt lõi định hình nghiên cứu gồm:

  1. Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể: Sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, nghệ thuật được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
  2. Di tích lịch sử văn hóa: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện hoặc nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng lớn.
  3. Di tích quốc gia đặc biệt: Công trình có giá trị tiêu biểu đặc biệt của quốc gia về kiến trúc, nghệ thuật và lịch sử.
  4. Quản lý di tích lịch sử văn hóa: Sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý thông qua cơ chế chính sách nhằm gìn giữ yếu tố gốc và phát huy giá trị phục vụ xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp gồm các văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ khoa học xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2014, hệ thống văn bia Hán Nôm (như văn bia Cổ Pháp Điện Tạo Bi khắc năm 1604) và các báo cáo tổng kết giai đoạn 2012–2017 của Ban Quản lý Di tích Đền Đô. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra xã hội học và điền dã thực địa.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 120 đối tượng, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên: 15 cán bộ quản lý thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh, Phòng Văn hóa - Thông tin thị xã Từ Sơn và Ban Quản lý di tích cơ sở; 35 cư dân địa phương phường Đình Bảng; cùng 70 khách du lịch tham quan tại Đền Đô. Luận văn lựa chọn phương pháp nghiên cứu liên ngành (quản lý văn hóa, lịch sử, xã hội học, bảo tàng học) kết hợp thống kê mô tả và phân tích so sánh định tính. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ tính đa diện của di tích Đền Đô, đòi hỏi sự đánh giá khách quan giữa chuẩn mực pháp lý nhà nước và hành vi thực tế của cộng đồng dân cư. Quá trình thu thập và phân tích dữ liệu được thực hiện trong thời gian từ tháng 09/2015 đến tháng 05/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, bộ máy quản lý di tích được tổ chức theo mô hình phân cấp 3 tầng rõ rệt: cấp Tỉnh (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch), cấp Thị xã (Phòng Văn hóa - Thông tin với 10 cán bộ, 100% đạt trình độ đại học) và cấp Cơ sở (Ban Quản lý di tích phường Đình Bảng cùng Ban Quản lý di tích Đền Đô thành lập từ ngày 03/01/2012). Tuy nhiên, chỉ khoảng 30% nhân sự trực tiếp làm công tác di tích tại địa phương có chuyên môn sâu về di sản văn hóa, dẫn đến hiệu suất xử lý hồ sơ tu bổ và xử lý vi phạm chậm hơn khoảng 20% so với yêu cầu tiêu chuẩn.

Thứ hai, có sự chênh lệch lớn trong công tác đầu tư và phân bổ nguồn lực bảo tồn giữa hai khu vực cấu thành di tích. Khu vực Đền Đô (diện tích 31.250 m²) với 21 hạng mục công trình bằng gỗ lim vững chắc tiếp nhận trên 85% tổng nguồn kinh phí trùng tu và tôn tạo, trong khi khu vực Thọ Lăng Thiên Đức (gồm 13 lăng mộ các vua Lý ngoài cánh đồng cách Đền Đô 800 m) chỉ nhận được khoảng 15% kinh phí, khiến nhiều gò lăng rơi vào tình trạng bị cỏ dại và rêu phong xâm lấn.

Thứ ba, công tác xã hội hóa nguồn lực tài chính đạt hiệu quả cao nhưng quản lý thu chi còn bất cập. Nguồn kinh phí từ tiền công đức và đóng góp tự nguyện của nhân dân chiếm hơn 70% tổng ngân sách hoạt động thường niên của di tích, vượt trội so với nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ. Dù vậy, việc trích lập kinh phí cho các hoạt động nghiệp vụ như kiểm kê, bảo quản hiện vật và số hóa tư liệu chỉ chiếm dưới 5% tổng thu.

Thứ tư, tính gắn kết cộng đồng rất cao trong mùa lễ hội truyền thống nhưng hạn chế trong công tác giám sát thường nhật. Tỷ lệ người dân địa phương tham gia lễ hội Đền Đô (ngày 14 đến 16 tháng ba âm lịch) đạt 92%, song chỉ có 18% cư dân quanh khu di tích nắm rõ các quy định cụ thể của Luật Di sản văn hóa.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bổ nguồn lực không đồng đều bắt nguồn từ áp lực ưu tiên phục vụ các sự kiện lớn, tiêu biểu là dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội năm 2010 khi phần lớn công trình Đền Đô được phục dựng hoàn thiện. Sự bất cập trong quản lý tài chính công đức phản ánh điểm nghẽn chung giữa quy định tại Quyết định số 80/QĐ-UBND của phường Đình Bảng và thực tế điều hành tự quản của ban di tích cơ sở.

Kết quả này tương đồng với các công trình nghiên cứu về quản lý di sản làng trong quá trình đô thị hóa tại Từ Sơn của nhiều nhà khoa học trước đây, đồng thời làm sáng tỏ thêm cơ chế vận hành của một di tích quốc gia đặc biệt nằm ngay giữa địa bàn đang phát triển công nghiệp mạnh mẽ. Dữ liệu khảo sát có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cơ cấu nguồn thu công đức (chiếm 70% so với 30% hỗ trợ ngân sách) và bảng ma trận phân nhiệm 3 cấp quản lý để nhận diện rõ các điểm nghẽn hành chính.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Kiện toàn mô hình tổ chức và nâng cao năng lực đội ngũ quản lý: Ủy ban nhân dân thị xã Từ Sơn phối hợp cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh tái cấu trúc Ban Quản lý Di tích Đền Đô thành đơn vị sự nghiệp có cơ chế tài chính tự chủ một phần; tổ chức định kỳ 02 khóa bồi dưỡng chuyên môn về bảo tồn di tích mỗi năm cho 100% cán bộ văn hóa cơ sở, hoàn thành chuẩn hóa năng lực trước năm 2019.
  2. Lập quy hoạch tổng thể và cân đối nguồn lực bảo tồn Thọ Lăng Thiên Đức: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh phê duyệt dự án bảo quản, tu bổ khẩn cấp 13 lăng mộ vua Lý; nâng tỷ lệ phân bổ vốn đầu tư cho khu vực lăng mộ lên tối thiểu 40% trong giai đoạn 2018–2020 nhằm khôi phục đường tuần tra và cảnh quan sinh thái bao quanh di tích.
  3. Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính và đẩy mạnh số hóa tư liệu: Ban Quản lý di tích phường Đình Bảng thiết lập hệ thống kiểm toán độc lập định kỳ hàng quý đối với tiền công đức, bảo đảm minh bạch 100% nguồn thu; trích lập tối thiểu 10% doanh thu thường niên để số hóa 3D toàn bộ 21 hạng mục kiến trúc và văn bia Cổ Pháp Điện Tạo Bi trước năm 2020.
  4. Mở rộng tuyên truyền pháp luật và phát triển sản phẩm du lịch bền vững: Phòng Văn hóa - Thông tin thị xã Từ Sơn triển khai chương trình truyền thông di sản học đường với tần suất 04 đợt/năm tại các trường học trên địa bàn; kết nối tour du lịch văn hóa Bắc Ninh nhằm tăng lượng du khách có hướng dẫn viên chuyên trách thêm 25% trong giai đoạn 2018–2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh, Phòng Văn hóa - Thông tin thị xã Từ Sơn cùng Ủy ban nhân dân cấp phường có thể sử dụng luận văn làm tài liệu định hướng hoàn thiện quy chế quản lý di tích cấp cơ sở và xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn lực trung hạn.
  2. Ban quản lý các di tích lịch sử văn hóa trên toàn quốc: Các ban quản lý di tích quy mô cấp tỉnh và quốc gia đặc biệt có thể tham khảo bài học thực tiễn về cơ chế quản lý tài chính công đức, phân định ranh giới bảo vệ và kinh nghiệm tổ chức lễ hội truyền thống gắn kết cộng đồng.
  3. Học viên, giảng viên và nhà nghiên cứu học thuật: Chuyên ngành Quản lý văn hóa, Di sản học và Lịch sử có thể khai thác hệ thống tư liệu thực chứng, phương pháp luận liên ngành và hệ thống văn bia thời Lê - Nguyễn được khảo tả chi tiết trong công trình.
  4. Doanh nghiệp du lịch và lữ hành văn hóa: Các đơn vị phát triển dịch vụ lữ hành có thể ứng dụng các phân tích về không gian 21 hạng mục kiến trúc Đền Đô và 13 lăng mộ vua Lý để thiết kế các tour du lịch di sản trải nghiệm kết hợp giáo dục truyền thống lịch sử cho học sinh, sinh viên.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao khu di tích Đền Đô và khu lăng mộ các vua triều Lý được xếp hạng Di tích Quốc gia Đặc biệt vào năm 2014? Di tích là nơi phát tích và tôn thờ 8 vị vua triều Lý, lưu giữ văn bia Cổ Pháp Điện Tạo Bi năm 1604 cùng 21 hạng mục công trình kiến trúc nghệ thuật thời Lê - Nguyễn. Quần thể kết hợp giữa Đền Đô rộng 31.250 m² và 13 lăng mộ Thọ Lăng Thiên Đức tạo nên giá trị lịch sử và nghệ thuật kiến trúc đặc biệt tiêu biểu của dân tộc.

  2. Mô hình phân cấp quản lý di tích tại phường Đình Bảng hiện nay được vận hành ra sao? Di tích vận hành theo mô hình phân cấp 3 cấp: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh chỉ đạo chuyên môn; Phòng Văn hóa - Thông tin thị xã Từ Sơn quản lý nhà nước; Ủy ban nhân dân phường Đình Bảng và Ban Quản lý Di tích Đền Đô (thành lập năm 2012) trực tiếp trông coi, điều hành thu chi và bảo vệ hiện vật.

  3. Điểm nghẽn lớn nhất trong công tác bảo tồn quần thể di tích này giai đoạn 2012–2017 là gì? Thách thức lớn nhất là sự mất cân đối nguồn lực khi Đền Đô nhận trên 85% nguồn vốn bảo tồn, trong khi 13 lăng mộ vua Lý ngoài cánh đồng chỉ tiếp nhận khoảng 15%. Ngoài ra, chỉ 30% cán bộ cơ sở có chuyên môn di sản và việc số hóa hiện vật chiếm dưới 5% nguồn thu công đức.

  4. Nguồn tài chính duy trì hoạt động tại Đền Đô chủ yếu hình thành từ những kênh nào? Kinh phí vận hành gồm 4 nguồn: tiền công đức của du khách, các khoản đóng góp xã hội hóa tự nguyện, nguồn thu từ hoạt động tham quan lễ hội và ngân sách hỗ trợ chống xuống cấp. Trong đó, nguồn thu xã hội hóa và tiền công đức chiếm tỷ trọng chi phối trên 70% tổng ngân sách hàng năm.

  5. Giải pháp then chốt nào được đề xuất nhằm phát huy bền vững giá trị di tích đến năm 2020? Luận văn đề xuất chuẩn hóa năng lực cán bộ đạt 100% qua tập huấn định kỳ, nâng tỷ lệ đầu tư cho khu Thọ Lăng lên 40%, minh bạch hóa 100% quỹ công đức, và trích 10% doanh thu để hoàn thành số hóa 3D toàn bộ di tích kiến trúc và văn bia cổ trước năm 2020.

Kết luận

  • Quần thể di tích Đền Đô và Thọ Lăng Thiên Đức tại phường Đình Bảng là biểu tượng lịch sử - văn hóa đỉnh cao của vương triều Lý (1009–1225) với 21 hạng mục kiến trúc và 13 lăng mộ tháp.
  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt.
  • Nghiên cứu làm rõ thực trạng quản lý giai đoạn 2012–2017 với bộ máy 3 cấp, đồng thời chỉ ra sự mất cân đối khi 85% nguồn lực tập trung cho Đền Đô và hơn 70% tài chính dựa vào xã hội hóa.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược về tổ chức, đầu tư hạ tầng, minh bạch tài chính công đức và ứng dụng công nghệ số hóa.
  • Công trình đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc cho công tác quản trị di sản văn hóa tại địa phương trong giai đoạn tiếp theo 2018–2020.

Để hiện thực hóa mục tiêu bảo tồn bền vững, các cơ quan ban ngành tỉnh Bắc Ninh và thị xã Từ Sơn cần nhanh chóng triển khai đề án quy hoạch tổng thể, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và chuẩn hóa đội ngũ nhân lực quản lý di sản ngay từ hôm nay.